Skip to content
30.07.2014 / Văn Nhân

Sử thuyết Hùng Việt và ngữ hệ của tiếng Việt .


Theo bài viết “Cơ sở xác định nguồn gốc tiếng Việt” (đã đăng lại trên trang này ) Thì :
Giới nghiên cứu ngôn ngữ chưa thống nhất , hiện Việt ngữ được xếp vào nhiều ngữ hệ khác nhau :
Việt ngữ thuộc về ngữ hệ Hán Tạng.
Việt ngữ thuộc về ngữ hệ Tai – Ka Đai (Thái ngữ ) .
Việt ngữ thuộc về ngữ hệ Nam đảo (Mã lai ) .
Việt ngữ thuộc về ngữ hệ Nam Á (Mon-Khmer).
Hiện quan điểm xếp Việt ngữ thuộc về ngữ hệ Nam Á (Mon-Khmer) được đa số tạm chấp nhận .
Trong số các học gỉa nghiên cứu về nguồn gốc tiếng Việt thì quan điểm cùa Taberd (1838): “tiếng Việt chỉ là một nhánh bị thoái hoá của tiếng Hán”…là bậy bạ nhất . Tiếng Hán là tiếng gì ? phải chăng ý tác gỉa nói đến Quan thoại ?, nhiều người tự bơm bong bóng …đấy là tiếng nói nhà Quan ; quan quyền gì đâu , quan chỉ là dịch từ ‘nom – nhìn’ của Việt ngữ , do trục Nam – Bắc nay đã lộn ngược nên Quan thoại là tiếng nói của người phương Bắc thế thôi , chính ra thì Quan thoại phải hiểu là tiếng của người Nam man mới đúng , man là biến âm của Mun tiếng Việt nghĩa là màu đen chỉ Huyền thiên hay phương đen – mờ – kăm kăm rét theo quan niệm của Dịch học , Phương Bắc hiện nay là phương màu Đen ; từ gốc đen – mờ – kăm sách sử mới có giống Nam man : nước Mông – mờ , nước Liêu – lu , nước kăm – Kim , nước Mãn – mỉn – tối , nhà Minh – mỉn – tối . Nước Quan tức thuộc quốc phương Nam của nhà Thương Ân thì ‘họ’ biến ra nước Quang là sáng láng , Quan vũ nghĩa là vua giống Nam man (vũ là ký âm của vua) biến ra Quang vũ tên riêng rồi thêm chữ ‘đế’ vào thành ra ông vua có tên là Quang vũ tổ của Đông Hán , ngày nay người ta cho tiếng nói vùng Tứ xuyên là 1 nhánh biến đổi đi từ cái gốc Quan thoại … toàn là chuyện ăn ngược nói ngạo , tiếng nói vùng Tứ Xuyên chính là Tần ngữ , Tần thủy hoàng sau khi chiếm được vùng Sơn Tây – Hà Bắc phía bắc Hoàng hà (cổ sử gọi là đất Hà nam – lại nói ngược ?) đã ra lệnh ….đuổi người Nhung đi và di dân Tần đến ở … đấy chính là cơ sở lịch sử để nói ngược lại …Quan thoại chỉ là 1 nhánh ngôn ngữ ra đời từ cái gốc tiếng Tứ xuyên …, lịch sử Trung quốc và lịch sử Văn hóa văn minh Trung hoa đang lưu hành đầy dãy những cái ngược ngạo như thế . Theo Sử thuyết Hùng Việt thì Tần ngữ – tiếng Tứ xuyên lại chỉ là 1 nhánh phát triển từ cái gốc Giao chỉ mà thôi như vậy so ra thì Quan thoại chỉ là nhánh hàng ‘cháu’ của Việt ngữ .
Lịch sử ngôn ngữ không thoát ly khỏi lịch sử dân tộc mà lịch sử cộng đồng dân tộc Việt hiện còn đang lẩn trong màn mây mù , điều hiện biết và đã viết ra của qúa khứ người Việt mới chỉ là …thấp thoáng bóng dáng mà thôi chưa thể gọi là 2 năm rõ mười đâu …
Khi xếp Việt ngữ thuộc họ ngôn ngữ này ngôn ngữ khác đã là sai lầm căn cơ ,đặt Việt ngữ ở tầng nông hơn 1 ngôn ngữ mẹ ở tầng dưới (dù chỉ là tên khoa học thì nó vẫn ngầm xác định nguồn gốc của ngôn ngữ và tộc người ) dù Mon-Khmer , Hán Tạng hay Tai – Ka Đai đều là … ‘sinh con rồi mới sinh cha’ .
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ ra chính Giao Chỉ – ‘chỗ giữa của trời đất’ mới là đất gốc tổ của người Hoa (không phải Hán) và người Đông nam Á như thế cũng đã đồng thời xác định tiếng nói người Giao chỉ mới ở cơ tầng ngôn ngữ sâu nhất , là mẹ của tất cả ngữ hệ mà các học gỉa đã nêu ra .
Tại sao không nói Hán văn (thực ra là Hoa văn) là nhánh thoái hoá của Việt ngữ ?.
Tại sao không nói tiếng Mã lai – Nam đảo giống tiếng Việt đến 40 % về từ ?
Tại sao không nói tiếng Thái bắt nguồn từ tiếng Việt mà đi nói ngược lại ?.
Nói tiếng Việt là ngôn ngữ họ Mon-Khmer được xử dụng nhiều nhất …nghe nó ngược ngạo sao ấy ! , Hợp lý ra khi đa số người sử dụng 1 ngôn ngữ thì khoa học lấy tên tộc người đó làm chuẩn mà định danh cho họ ngôn ngữ …, như ngôn ngữ có đa số người sử dụng là người Hán và Tạng thì định danh là ngữ hệ Hán -Tạng , Việt ngữ chỉ là 1 nhánh của ngữ hệ ấy , nhưng khi tiếng Việt là tiếng nói của tuyệt đại đa số người xử dụng thì người ta lại gọi đó là ngữ hệ Mon-Khmer …thế là làm sao ?.
Những từ cơ bản giống với từ tiếng Khơme , những từ ở trình độ văn minh cao hơn lại giống với tiếng Hán …vậy ra Việt ngữ là ngôn ngữ vay chỗ này 1 ít mượn chỗ kia 1 ít …không lẽ dân tộc Việt ra đời sau người Hán và Mon-Khmer Và nếu như thế thì làm gì có bản sắc văn hóa Việt và nền văn minh Việt cổ ? , phải chăng người Việt là giống kém phát triển nên mới phải đi vay mượn từ ‘cao cấp’ của Hán ngữ để diễn đạt và truyền lưu ?.
Thàng tựu của di truyền học đặc biệt mới nhất là AND đã xác nhận điều Sử thuyết Hùng Việt chỉ ra : vịnh Bắc bộ là cái nôi của mã di tố O theo dòng cha , mọi sắc dân mang mã di tố O dù là O+ hay O 1 – O2 – O3 tức người Hoa người Thái người Mã người Indonesia .v.v. cũng đều từ cái gốc ấy sau mới lan tỏa dần đến những miền đất mới và hình thành dân tộc với nền văn hóa văn minh riêng .
Con người từ đấy mà ra thì tiếng nói cũng phải từ đấy mà ra .
Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học nhưng dựa vào lịch sử dòng họ Hùng mà xác quyết :
Việt ngữ tiếng nói ở Giao Chỉ mới là ngôn ngữ ở cơ tầng dưới cùng và chính là mẹ của các ngữ hệ Nam Á – Nam đảo thậm chí là cả Hán Tạng (thông qua Đường ngữ) .
Các nhà Nhân chủng học và Ngôn ngữ học ơi , xin xem lại những tên gọi mà lớp khoa học gia Tây phương đời trước do khiếm khuyết kiến thức về phương Đông đã lỡ sai , nếu không thì …chính qúy vị trở nên …lạc hậu so với thời đại , bất hợp lý thì không còn là khoa học nữa …, phải chăng qúa sợ Thành cát tư hãn mà qúy vị gọi cả giống da vàng là chủng Mongoloid khi Mông cổ liệu người có được mấy mống ?, Phải chăng vì con số 1200 triệu và mớ sử thập cẩm ‘Càn long chế phẩm’ mà qúy vị cho tiếng Việt là nhánh thoái hóa của tiếng Hán ?.
Nước Việt xưa là Âu Lạc , Âu là Ai lao thiết , Ai lao di là giống dân ở vùng Tây – Nam Trung hoa chủ yếu là Thái Tày Choang vậy …tiếng Việt và tiếng Thái giống nhau là chuyện đương nhiên không phải bàn .
Người Chăm nước Chiêm thành còn gọi là người La , bằng chứng vùng biển ngoài khơi Chiêm thành gọi là La hải mà La với Canh chỉ là 1 phân cực thành 2 đầu của La bàn phong thủy, La với Canh 2 mà là 1 như thế tiếng Kinh – Việt giống tiếng Chăm – Nam đảo (cùng hệ với tiếng Mã lai – Indo) có gì lạ đâu ?.
Thời gian không ngừng trôi , khoa học luôn phát triển , cái mới phủ định cái cũ … đấy là quy luật ; cái hôm qua đúng …hôm nay chưa chắc và …ngày mai có thể sai .
27.07.2014 / Văn Nhân

Lan man chuyện biển đảo trong cổ sử Việt


Bách Việt trùng cửu – nguồn http://báchviệt18.vn/
Hôm qua xem chương trình Giai điệu tự hào, chủ đề “Xa khơi” về biển đảo. Thấy có một “bình luận viên” trẻ phát biểu, đại ý là: nước ta phải mãi đến triều Nguyễn mới quan tâm đến vấn đề biển, lập các hải đội quản lý biển đảo. Còn trong truyền thuyết thì thiên về “lên rừng” nhiều hơn. Sơn Tinh thắng Thủy Tinh… Việt Nam không được biết đến là nước có truyền thống chinh phục biển…
Nhận thức sai lệch về lịch sử chinh phục biển đảo của Việt Nam không phải chỉ do giới trẻ kém hiểu biết. Đây là do quan niệm sai của cả ngành lịch sử Việt Nam về những vấn đề trong cổ sử, dẫn đến những nhận định xa sự thực.
Nói về biển trong cổ sử Việt trước hết phải nói chuyện Lạc Long Quân mang 50 người con xuống biển. Lạc Long Quân, quốc tổ người Việt, đã đem một nửa dân tộc xuống khai phá miền biển sau cơn đại hồng thủy thời Sơn Tinh – Thủy Tinh. Lạc Long Quân còn diệt loài Ngư tinh trên biển. Lịch sử khai thác biển của người Việt như vậy đã bắt đầu ít nhất từ 4.000 năm trước.
Câu hỏi là tại sao sử Việt chỉ chép Mẹ Âu Cơ đưa 50 người con lên rừng, đến Phong Châu lập con cả làm Hùng Vương, mở nước Văn Lang, bắt đầu quốc gia đầu tiên trong sử Việt. Còn Cha Lạc Long đi xuống biển là đi đâu? Dấu tích 50 người con xuống biển ở đâu? 50 người con theo mẹ lập nước Văn Lang. Vậy 50 người con theo cha không lập nên quốc gia nào hay sao?
Hình ảnh người Việt cổ trên trống đồng.
Không phải Lạc Long quân không để lại dấu tích về quốc gia đã hình thành ở miền duyên hải mà là các nhà nghiên cứu chưa nhận ra, hay không muốn nhìn nhận những dấu tích này mà thôi. Dấu vết của Cha Lạc Long để lại rất sâu đậm trong … tín ngưỡng của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển mở mang Thủy phủ. Do vậy Lạc Long Quân chính là người đứng đầu Thủy phủ hay là vị Vua cha Thoải phủ trong Đạo Mẫu Việt Nam.
Vua cha của Thoải phủ là Bát Hải Động Đình, với di tích thờ chính là ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Văn công đồng kể:
Dưới Thoải phủ giang hà hải ngoại
Chốn Động Đình Bát Hải long vương
Tam nguyên, tam phẩm, tam quan
Quản chi tội phúc nhân gian cầm quyền.
Vua cha Bát Hải Động Đình là cha của các hoàng tử và thập vị quan lớn từ Đệ nhất, Đệ nhị, Đệ tam… Sau Ngọc Hoàng Thượng đế, Vua cha Bát Hải Động Đình là vị thần quan trọng chủ yếu của tín ngưỡng Tứ phủ.
Động Đình là nơi Lạc Long và Âu Cơ đã gặp gỡ mà sinh ra nòi giống Việt. Đây là cái nôi của người Việt cổ. Động Đình không phải là cái hồ nước sâu vài mét ở Hồ Nam. Tên Bát Hải Động Đình của vua cha Thoải phủ chỉ rõ: Động Đình là biển. Biển ở phương Tám (Bát) tức là phương Đông. Động Đình hồ nghĩa là cái hồ lớn (to như cái Đình) ở phía Đông, tức là biển Đông, hay là Vịnh Bắc Bộ với bờ biển khoanh tròn hình cái hồ lớn.
Quốc gia mà Lạc Long Quân lập nên theo truyền thuyết là Xích Quỷ. Nơi mà Vua cha Bát Hải Động Đình cùng dân khai phá lập ấp là Hoa Đào trang theo thần tích đền Đồng Bằng. Thực ra Xích là màu đỏ, màu của xứ nóng. Hoa Đào cũng là màu đỏ. Nước là Lạc Long Quân lập nên là … Hoa Hạ. Hạ hay hè cũng là xứ nóng. Lạc Long Quân là tổ của Hoa Hạ, cũng là quốc tổ người Việt vì Hoa và Việt thời cổ sử là một.
Ngọc phả đền Hùng chép một trong 18 đời Hùng Vương có vị Hùng Hoa Vương, hiệu là Hải Lang. Đây là tên của Lạc Long Quân, vị vua đã khai mở Hoa Đào trang ở vùng Bát Hải.
Câu đối ở cổng đền Đồng Bằng:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giàng hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Hoa Đào trang của Bát Hải Động Đình là vùng ven Vịnh Bắc Bộ ngày nay, tồn tại vào thời 4.000 năm trước. “Biển Bát” (biển Đông) đã được người Việt khai phá từ thời quốc gia, dân tộc mới hình thành.
Vị trí của Sabah, nơi tìm thấy trống đồng Đông Sơn.
Bằng chứng hiện hữu hơn quan niệm và truyền thuyết về việc khai phá biển đảo của người Việt là di vật được tìm thấy ở … Malaysia. Bang Sabah nước này, nằm phía Bắc của đải Borneo, nơi có ngọn núi Kinabalu cao nhất Đông Nam Á (trên 4.000m). Sabah nằm ngay sát quần đảo Trường Sa. Nếu lên thuyền từ Việt Nam đi Sabah thì sẽ phải qua quần đảo Trường Sa.
Khảo cổ khu vực Sabah thời kỳ trước Công nguyên không có gì ngoài đúng 1 ngôi mộ cổ trong đó lại có một chiếc trống đồng Đông Sơn được chôn cùng. Chiếc trống đồng “Việt Nam” này có niên đại khoảng 2.000 – 2.500 trước, tức là thời Hùng Vương ở nước ta. Ở khu vực này không có những hiện vật đồ đồng khác của nền văn hóa đồ đồng bản địa nên chiếc trống đồng này chỉ có thể là mang từ nơi khác đến đây. Chiếc trống đồng Việt Nam ở Sabah này là một bằng chứng rõ ràng, người Việt đã có mặt ở khu vực này từ thời trước Công nguyên.

Trống đồng dạng Đông Sơn ở bảo tàng bang Sabah tại thành phố Kota Kinabalu, Malaysia.
Những người dân bản địa đảo Borneo (người Dayak) có trang phục cởi trần, đóng khố, xăm mình đầu đội lông chim trĩ dài, giống y hệt trang phục cư dân Việt cổ được thể hiện trên mặt trống đồng.  Đây hẳn cũng là dòng giống những người Việt cổ đã vượt biển tới định cư ở hòn đảo Borneo xa xôi này.
Trong truyền thuyết Việt khi An Dương Vương bị Triệu Đà đuổi, chạy đến vùng Mộ Dạ ở Diễn Châu (Nghệ An) rồi cầm sừng văn tê 7 tấc mà đi vào biển. Hiểu theo ngôn ngữ ngày nay, An Dương Vương đã lên thuyền đi ra biển tránh giặc. Nếu lên thuyền từ Diễn Châu mà ra khơi xuống phía Nam thì nơi đến đầu tiên của An Dương Vương rất có thể là đảo Borneo vì đây là hòn đảo lớn gần bờ biển Việt Nam nhất. Từ đây nền văn hóa trống đồng tiếp tục lan tỏa xuống khu vực phía Nam trên vùng đất của Indonesia ngày nay, nơi có những chiếc trống đồng và tộc người dùng trống đồng đã được biết.
Trang phục người bản địa được trình diễn ở Sabah.
Người Việt đã đặt biển Động Đình và vua cha Lạc Long quân ở sâu thẳm trong tâm trí và tín ngưỡng của mình. Những hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, hiện vật trống đồng ở đảo Borneo cho thấy truyền thống chinh phục biển đảo của người Việt đã có từ thời đại Hùng Vương.
Văn Nhân thêm ý :
Đào giang là sông Hồng ngày nay . Các con sông lớn trên đất Việt Nam và Trung hoa chính là pho sử  khắc vào trời đất , như Đào giang hay sông Hồng là đất tổ của nhà Hạ (tương quan đào – hồng – hỏa – hạ trong Dịch học)  , thượng nguồn  sông Châu hay Tây giang là đất tổ nhà Châu .v.v.
Từ̀̀̀̀ hơn 2000 năm trước công nguyên , dân tộc Hùng đã từng có  vua  Hải lang tức chúa biển cả , 1 Mai An Tiêm thời vua Hùng đã khai thác hải đảo trồng dưa hấu , đạo vợ chồng là  giềng mối của nhân luân và ngay ở cơ tầng thâm sâu ấy người Việt đã thuộc nằm lòng …  “thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn” đủ biết vị trí của biển ăn sâu trong tâm thức người Việt đến mức nào vậy mà  còn có kẻ  nói …nước ta thời xa xưa không chú trọng đến biển đảo …đúng là  bưng tai bịt mắt nói bừa .
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo…ngay thời cận đại người Tàu vẫn gọi biển Đông là Giao chỉ dương hoặc vùng biển ngoài khơi Chiêm thành là La hải , La hải cũng là Bắc hải (nhà Nguyễn lập …  ‘đội Hoàng sa kiêm quản Bắc hải’ để quản lý vùng biển Trường Sa ) , sao lại là La hải – Bắc hải trong khi hòn đảo lớn đối diện với La hải lại gọi là đảo Hải nam , gọi như thế có phải xác định hòn đảo ấy nằm ở phía Nam biển ? , đây là bằng chứng rõ ràng trục Nam – Bắc xưa nay đã lộn ngược . Một khi Bắc Nam đã lộn ngược thì lịch sử – địa lý Trung hoa cũng phải lộn theo không thể khác …
Dù gọi là Giao Chỉ dương và La hải không có nghĩa là vùng biển ấy thuộc chủ quyền Giao chỉ và Chiêm thành  nhưng chắc chắn …đấy không thể  là biển Nam Trung quốc như các đấng con trời tự đặt tự gọi tự in bản đồ …từ khi máu bành trướng nổi lên  .
Cả rừng ‘học gỉa’ Trung quốc khi cố chứng minh chủ quyền lịch sử biển Đông  của Trung quốc cũng chỉ ‘rặn’ ra được mấy bằng chứng vớ vẩn không thể chấp nhận về mặt lý lẽ ; …ngày nào tháng nào đó thời xa lắm cả ngàn năm trước có quan A tướng Z nào đó người Tàu đã …trông thấy hay đi ngang qua mấy doi cát ngoài biển có từ tính gì gì đó …như thế là đã ‘khám phá’ ra những đảo ấy và vận dụng ‘quyền khám phá’ ấy xác lập chủ quyền lịch sử …không thể tranh cãi , thật là nực cười cho  đám học gỉa (không học thật) này , lý luận theo ‘kiểu Tàu’ thì tôi có thể có cả ngàn… ‘vợ’ vì suốt cuộc đời mình có thể mô tả cả ngàn dáng vẻ …làn da khuôn mặt đàn bà con gái đã từng gặp hay trông thấy …
Nói thực lòng không ai dám chê  học gỉa Trung quốc ‘dốt’ , tài trí các vị có thừa là đàng khác …nhưng khổ 1 nỗi như người Việt thường nói …có bột mới gột nên ‘hồ’ , Hoàng sa và Trường sa rộng ra là cả biển Đông chưa bao giờ thuộc chủ quyền của Trung quốc thi …lấy bột ở đâu ra , …không bột mà buộc phải gột thì chỉ nên ‘hề’ mà thôi , người  thiên hạ cười nứt bụng …
25.07.2014 / Văn Nhân

Lược lại đoạn sử họ Hùng đầy rối rắm .


Thời Thiên hạ chia thành Nam – Bắc , sử Trung quốc gọi là Ngũ hồ thập lục quốc tức 5 giống rợ chủng Mongoloid chiếm miền Bắc Thiên hạ ,Thát bạt Ngụy hay Nguyên Ngụy là nhà nước của người Thác bạt , do ngụy vương Thác Bạt Khuê lập Năm 386 .
Thác bạt thiết Thát ký âm la tinh là Tacta , năm 439 nước Ngụy của rợ Thác Bạt đánh bại các giống rợ khác làm chủ miền bắc Trung hoa .
Khoảng năm 534-535 Sau 1 thời chiến tranh dành giật ngai vàng , 2 đại thần Cao Hoan ở phía Đông và và Vũ Văn Thái phía Tây cùng tuyên bố đưa ‘gà’ của mình lên ngai vàng dẫn tới sự chia cắt lãnh thổ Bắc Ngụy thành hai nhà nước Đông và Tây .
Năm 550, con trai Cao Hoan là Cao Dương buộc Hiếu Tĩnh Đế của Đông Ngụy nhường ngôi cho mình, kết thúc nhà Đông Ngụy và thành lập Bắc Tề. Ở phía Tây năm 556, cháu Vũ Văn Thái là Vũ Văn Hộ cũng buộc Cung Đế của Tây Ngụy nhường ngôi cho con trai Vũ Văn Thái là Vũ Văn Giác, kết thúc Tây Ngụy và lập ra Bắc Chu, Hãn quốc Bắc Ngụy hoàn toàn diệt vong .
Bắc Châu dưới sự thao túng của Vũ văn Hộ chỉ như cái bóng của Tây Ngụy . Năm 561 Vũ văn Ung lên ngôi , Văn Ung nhẫn nhục mặc cho Vũ văn Hộ tự tung tự tác , năm 572 thời cơ đến liền lừa giết chết Vũ văn Hộ từ đó vua mới nắm thực quyền .Với công trạng diệt nhà Bắc Tề thu cả Hoa Bắc về 1 mối lịch sử công nhận Vũ văn Ung là Cao tổ Vũ đế mới chính là vua khai sáng triều đại Bắc Châu của thiên hạ .
Nhà Bắc Châu của Trung hoa Việt sử gọi là nhà Đinh vua kiến lập là Đinh Hoàn , sự thực không vua nào họ Đinh Tên Hoàn chỉ có Đinh hoàng nghĩa là vua Đinh – tức vua phía Tây mà thôi .
Với quốc hiệu Châu biến âm của Chiêu – phía Tây Sử Trung Hoa gọi là Bắc Chu đã biểu thị rõ rệt sự tiếp nối quốc thống nhà Châu cổ đại , Tư liệu lịch sử Trung quốc viết nhà Bắc Châu học theo lối tổ chức triều đình Trung hoa và trở thành kẻ thù của đám rợ phương Bắc còn sử Việt chép vua Đinh định phẩm phục chế triều nghi …chứng tỏ 1 trang sử mới đã mở ra cho Thiên hạ , đó chính là thời phục hưng của dòng giống Hùng .
Vũ Đế mất năm 578 dẫn tới sự tiêu vong của triều đại , Chu Tuyên Đế nối ngôi là tay phá gia chi tử làm vua chưa đầy 1 năm đã nhường ngôi cho con là Vũ Văn Xiển mới 7 tuổi để lên làm Thái thượng hoàng , quyền hành thực sự nằm trong tay Dương Kiên là cha của thái hậu . Năm 581, Bắc Chu Tĩnh Đế …bị ‘thiện nhượng’ ngôi thiên tử cho ông ngoại Dương Kiên ,nhà Bắc Chu mất Tùy thành lập.
Sự việc được Sử Việt chép là Đinh Hoàn và con cả là Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám sát , con thứ là Đinh Toàn lên thay khi mới 6 tuổi. Quyền lực thực tế năm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn tức vua Lê Đại Hành. Nhà Đinh truyền được đến đời thứ hai thì thay thế bởi nhà tiền Lê .
Gian đoạn lịch sử hết sức rối rắm này người Viết Lịch sử Việt đã lầm lẫn , đoạn sử này thực ra chẳng có ai là Đinh Liễn và cũng chẳng có vua nào họ Lê tên Hoàn chỉ có Lê hoàng tức vua họ Lê mà đúng ra phải là Dương hoàng tức Dương tam Kha (nguyên nhân sử gia Việt biến họ Dương ra Lê hiện chưa rõ) , sử gia đã lầm lẫn Lê hoàng với vua họ Lê hiệu là Đại hành là vua thứ II nhà Lý nước Đại Việt con của Đinh bộ lĩnh – người cầm đầu đất phía Tây ở thời điểm quân nhà Tống chiếm kinh đô Đại Việt ở Phiên Ngu , [Đinh bộ]- Lĩnh chính là là Lý công Uẩn – ông Lý làng Diên Uẩn , người mà sử gia Tàu nói …gỉa xưng họ ‘Lê’ xin thiên triều chuẩn phong .
Lịch sử Việt không hề có người đàn bà họ Dương là hoàng hậu 2 triều Đinh và Lê , chuyện thái hậu nhà Đinh tư thông với tướng quân Lê Hoàn đoạt ngôi nhà Đinh chỉ là bản coppy sự kiện Triệu khuông Dẫn tổ nhà Tống chiếm ngôi nhà hậu Chu bên Tàu .Việc Dương Kiên đoạt ngôi của cháu ngoại dứt nhà Bắc Châu được sử gia Việt chép thành thái hậu họ Dương của triều Ngô để anh là Dương tam Kha đoạt ngôi của con, Dương tam Kha lên ngôi xưng là Dương Bình vương hay Dương chủ tướng …, thật là lạ nước Việt có vua họ Dương nhưng Sử lại không có triều nào là …nhà Dương . Chi tiết Dương tam Kha đoạt ngôi của Đinh Toàn lên làm vua rồi lại giao binh quyền cho chính ông vua mất ngôi đi đánh giặc là chuyện không thể có trừ phi họ Dương loạn trí , chỉ 1 thông tin này thôi cũng đủ chứng tỏ cả đoạn sử nhà Đinh – Lê là không thực , chỉ là tác phẩm của người vjết sử đời sau tạo ra nhằm lấp những khoảng trống lịch sử …không thể hiểu khi so sánh tư liệu lịch sử của ta với sử Tàu…
Lịch sử Việt và Hoa có tới 3 thái hậu họ Dương , thái hậu con của Dương Kiên , thái hậu con của Dương diên Nghệ em của Dương tam Kha và thái hậu Dương vân Nga của nhà Đinh …chính vì không biết 3 bà thái hậu họ Dương này thực ra là 1 người mà Việt sử có giai đoạn hết sức rối rắm .
Triều Tùy của Hoa sử tức triều đại vua Dương tam Kha trong sử Việt thật ngắn ngủi nhưng rất hiển hách , Dương Kiên đã diệt Trần triều ở phía Nam thu thiên hạ về 1 mối mở ra thời kỳ huy hoàng của dòng giống Hùng .
Dương Quảng đã khiến nhà Tùy tiêu vong , Việt sử chép thành Lê long Đĩnh làm nhà tiền Lê của Lê hoàng sụp đổ . Lý Uyên tức Lý công Uẩn I của sử Việt đã tạo nên 1 thời rực rỡ khởi đầu từ sự đổ đốn của ông vua thứ 2 tiền triều .
Sử thuyết Hùng Việt cho là có tới 3 vì vua cùng gọi là Lý công Uẩn .
Lý công Uẩn I là Lý Uyên trong Hoa sử .
Lý công Uẩn II là Lưu Ẩn thực ra là Lí Ân hoặc Lê Ẩn người đã đặt nền móng cho nước Đại Việt đô ở Quảng châu .
Lý công Uẩn III là ông Lý làng Diên Uẩn ở Giao chỉ , tư liệu lịch sử Trung quốc thường gọi cộc lốc là Công Uẩn .
Và cũng có tới 3 ông vua họ Đinh – phía Tây .
Đinh tiên hoàng theo sử thuyết Hùng Việt chính là Tần thủy hoàng .
Đinh Hoàn đúng ra là Đinh hoàng vua phía Tây là Bắc Châu vũ đế -Vũ văn Ung trong Hoa sử .
Đinh bộ Lĩnh trình bày cho chính xác là [Đinh bộ]- lĩnh nghĩa là người cầm đầu ‘Đinh bộ’ cũng là ‘Đinh phần’ tức phía Tây đất nước .
Nhập 3 nhà Đinh lại làm 1 , 3 Lý công Uẩn thành 1 người …trộn lộn sự việc xảy ra trong những thời khắc lịch sử khác nhau tạo ra đống tơ vò trong qúa khứ là sai lớn của sử gia người Việt thời phong kiến .
Điểm đặc biệt thời họ Hùng phục hưng , Sử gia Trung Hoa đã đặt tên triều đại cũng là quốc hiệu theo tên chi tộc của dòng giống Hùng :
Nhà Châu tức Việt Cửu hay Cửu Việt viết sai thành Qùy Việt hay Qủy Việt của chi tộc Việt phía Tây , Châu – chiêu là nơi mặt trời lặn , Cửu là số 9 trấn phương Tây trong Hà thư (đồ) , Đinh – đanh cũng là định tĩnh chỉ sự cứng rắn không thay đổi của phía Tây đối phản với tính Sống – Động của phía Đông theo quan niệm của Dịch học .
Nhà Tùy của chi Tủy Việt , Tùy hay Tủy chỉ là biến âm của sùi – sủy – Sở vì Dương Kiên trước mang tước Tùy vương , vương của vùng Hồ Bắc địa phận nước Sở xưa .
Nhà Đường tức Việt Thường là triều đại của chi Việt phía Nam , Việt Thường -Giao chỉ chính là đất của Nam Bang – Nam triều từ thời lập Hữu Hùng quốc tức thời đầu của thiên hạ sơ khai với Nam bang triệu tổ là đế Nghi anh của Lộc Tục – Lục tộc tức Đường Nghiêu đế .
Trong sử liệu Trung hoa Lạc Việt tức Việt nước thường bị lầm với Tủy Việt hay Sở Việt vì cùng là Việt ‘nước’, từ ‘Nước’ là tên riêng sau người Việt biến thành danh từ chung chỉ quốc gia . Đầm Vân – Đầm Mộng chảy vào Động đình hồ được cho là ở Hồ Nam nước Sở Xưa thực ra là đất Giồng (vân mồng thiết vồng – giồng) tức doi đất ngoi lên khỏi vùng nước mênh mông chung quanh là cảnh quan của thời đang hình thành đồng bằng Bắc Việt , các sông Hồng Đà Lô đều chày qua đất ‘giồng’ rồi vào biển Đông tức Đông – hải , Động -(đình hồ).
Nhà Lương của Chu Ôn tức ông Chu chỉ như cái bóng kéo dài thoáng qua của nhà Đường .
Ở Giao châu Khúc thừa Dụ – ông Cụ (khúc dụ thiết cụ) tự lập làm tiết độ sứ , ông Cụ chính là Lưu trí Khiêm tức Lý Khiêm hoặc Lê Khiêm (lưu trí thiết lý – lê) mất con là Khúc Hạo – ông Cậu (khúc hạo thiết cậu) thay quyền tiết độ sứ , ông Cậu – Lý ẩn hoặc Lê Ẩn từ Giao châu tiến chiếm Quảng châu làm chủ cả lĩnh Nam , vương phủ đặt ở Phiên ngung hay Phiên Ngu – Ngô , sách Mộng khê bút đàm gọi Lưu Ẩn là Ngô văn Xương tức Ngô vương (văn xương thiết vương) là danh hiệu gọi vương ở thành Phiên Ngu – Ngô , nối kết Lý Ẩn và Ngô văn Xương chỉ ra sử Việt gọi nước Đại Việt đô ở Phiên Ngung là triều đại của Hậu Ngô vương (Ngô xương văn , Ngô xương ngập , Ngô xương Xí) .
Khúc Hạo – ông Cậu Lưu Ẩn mất em là Khúc thừa Mỹ – ông Cả (khúc mỹ thiết kỉ – cả) Lưu Nghiễm thay quyền làm chủ cả lĩnh Nam , Lưu Nghiễm thực ra là Lý hoặc Lê Nghiễm là danh hiệu của ông họ Lý hoặc Lê ở Nghiễm châu , Nghiễm châu là tên gọi khác của thành Phiên Ngu – Ngô . Lý hoặc Lê Ẩn sử Việt cũng gọi là Lý công Uẩn , Sử thuyết Hùng Việt đặt là Lý công Uẩn II . Lý hoặc Lê Nghiễm xưng đế lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu – Ngô Quảng châu ngày nay lãnh thổ gồm 3 miền Việt Đông Việt Tây và Việt Nam .
Đại Việt thời đô ở phía Đông cải quốc hiệu gọi là Đại Hưng lấy cớ các vua Đại Việt là dòng dõi của Lý Bôn – Lưu Bang Hưng đế (Hán sử văn vẹo chữ nghĩa biến ra Hán đế) tức Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang của Hùng triều thế phổ.
Tống thái tổ phái thằng ‘phỉ’ (Phan Mỹ thiết phỉ) đem quân đánh chiếm Phiên Ngu – Ngô . Lưu Sưởng tức Ngô xương Xí – Ngô xí xương (xí xương thiết Sưởng) sau khi chuyển quốc khố về phía Tây đã quyết chiến với quân binh nhà Tống , thua trận cho thiêu rụi kinh thành rồi nộp mình làm tù nhân , Lý hay Lê Sưởng sau bị Tống thái tổ giết bằng thuốc độc .
Sau khi mất phía đông , Thủ lĩnh người Việt phía Tây sử gọi là [Đinh bộ] – lĩnh tên thực là Lý hoặc Lê Liễn được tôn làm vua nước đại Hưng mới đô ở phía Tây trên đất Giao chỉ , tư liệu lịch sử Trung quốc đểu cáng viết ….Liễn giết Ngô vương chiếm đất sau đó gỉa xưng họ Lê xin vua Tống chuẩn phong …:Lê Liễn là Lý công Uẩn III – ông Lý làng Diên Uẩn là người mở đầu triều đại nhà Lý phía Tây với 8 vua của dòng sử Việt chính thống , Lê Liễn – Công Uẩn mất con là Đức Chính tức Lê đại Hành lên thay , đến đời vua thứ 3 là Nhật Tôn thì công khai xưng là hoàng đế thứ 3 nhà Lý lấy lại quốc hiệu ban đầu là Đại Việt và dời đô về thành Thăng long .
Các từ : Công là ông , đức là biến âm của đế , tôn nghĩa là cao chỉ đấng cao cả tức vua là những danh từ chung , người Tàu chép sử Việt không rành tiếng Việt biến hết thảy thành danh từ riêng tên của 3 ông vua đầu nhà Lý. Từ sự kiện ngôn ngữ này phải thẩm định lại tính chân xác của toàn bộ thông tin lịch sử giai đoạn này do các quan Tàu viết ra .
Câu thơ của vua Trần …lưu lại trên đất nay là Khánh hoà .
Trần triều uy đức an thiên hạ
Lê gia công trạch định Viêm cương .
Viêm cương là biên giới quốc gia hướng xích đạo hay phương ‘nóng phồng’ , câu thơ đã khiến Việt sử trở nên đầy bí ẩn …là thơ của vua nhà Trần thì không thể nói về triều hậu Lê của Lê Lợi , hợp lẽ thì Lê gia chỉ có thể là nói đến đời vua Lê Liễn – Công Uẩn và Lê đại Hành – Đức Chính tức 2 vua đầu của nhà Lý . Nhà Lý ít nhất cũng có 2 thái hậu mang họ Lê , riêng trường hợp Thiên Tộ – Lý Anh Tông tư liệu Trung hoa nói rõ mẹ mang họ Lê và ấu thơ sống ở Chiêm thành suy ra …mẹ Thiên Tộ hoàng hậu nước Đại Việt chắc chắn là người Chàm .
Ánh sáng khoa học càng soi rọi vào qúa khứ thì sự liên quan về mặt huyết thống và văn hóa giữa tộc Kinh đa số và người Chàm trong cộng đồng dân tộc Việt càng sâu rộng ; tiêu biểu và mới nhất là những hiện vật khảo cổ xuất lộ khi khai quật cố đô Thăng long thời nước Đại Việt … thật kinh ngạc khi tìm được vô vàn chứng tích văn hóa vật thể mang dấu ấn văn hóa Chăm pa .
Sự thể ra sao ?.
Thiên hạ họ Hùng cả 1 lục địa mênh mông nay còn đâu ! , vì lầm lỗi của những người chép sử phải chăng người Việt đã đánh mất sự vĩ đại của chính mình ?. Tự co rút mình lại trên mảnh đất Giao Chỉ là do sai lầm hay mắc bẫy kẻ thù ?.
Lịch sử Việt hiện còn đầy dãy những điều phải xem lại …
24.07.2014 / Văn Nhân

Nghi án mẹ ruột của hoàng đế Chu (Đệ ?)


Phong Nguyệt – nguồn http://phunutoday.vn/
(Thâm cung bí sử) – Chính Minh Thành Tổ cũng là kẻ ra lệnh đã thực hiện chính sách hủy diệt văn hóa tàn bạo trong cuộc xâm lăng Đại Việt.
Trong số các vị Hoàng đế triều Minh, Minh Thành Tổ Chu Đệ là một ông vua được liệt vào loại “có nhiều chuyện để bàn”.
Người ta nói Chu Đệ là một ông vua lỗi lạc, nhiều đóng góp, là “người sáng lập thứ hai” của nhà Minh.
Tuy nhiên, ai cũng biết, để ngồi được lên ngai vàng, Chu Đệ đã giết chết chính cháu ruột của mình là Minh Huệ Đế, người được chính Chu Nguyên Chương lựa chọn.
Chính Minh Thành Tổ cũng là kẻ ra lệnh đã thực hiện chính sách hủy diệt văn hóa tàn bạo trong cuộc xâm lăng Đại Việt.
Vì vậy những tranh luận về ông vua này cho tới nay vẫn chưa chấm dứt. Ngay câu chuyện đơn giản rằng mẹ ruột của Chu Đệ là ai mà người ta tranh luận suốt 600 năm qua vẫn chưa cho kết quả…
1. Trong những năm qua, có rất nhiều giả thuyết được đưa ra về người mẹ ruột của Chu Đệ. Chung quy lại thì có 3 loại giả thuyết sau đây: Một là cha đẻ Chu Đệ chính là Chu Nguyên Chương, mẹ đẻ Chu Đệ chính là Mã Hoàng hậu.
Thuyết thứ hai nói nói rằng, Chu Nguyên Chương là cha đẻ của Chu Đệ, tuy nhiên, mẹ ruột của Chu Đệ không phải là Mã Hoàng hậu.
Một thuyết khác nữa nói rằng, Chu Đệ không phải là con ruột của cả Chu Nguyên Chương lẫn Mã Hoàng hậu.
Vậy rốt cuộc mẹ ruột của Chu Đệ là ai? Cho tới nay đây vẫn là đề tài gây ra tranh cãi cho các nhà sử học và chưa có ai dám xác quyết câu trả lời của mình là kết luận cuối cùng.
Trong số các giả thuyết mà các nhà sử học đưa ra thì có ít nhất 4 người phụ nữ được đưa vào diện “tình nghi” là mẹ ruột của Minh Thành Tổ Chu Đệ.
Thứ nhất chính là người vợ cả của Chu Nguyên Chương – Mã Tú Anh. Thứ hai là một phi tử người Cao Ly (Triều Tiên) Lý thị. Thứ ba là Hồng Cát Lạt thị, một phi tần của vua Thuận Đế nhà Nguyên.
Thứ tư chính là Ông thị, một người phụ nữ người Mông Cổ. Mối quan hệ giữa Chu Đệ và 4 người phụ nữ này rất hỗn loạn và phức tạp. Tuy nhiên, chỉ có một trong số 4 người ấy là mẹ ruột của Chu Đệ mà thôi.
Giả thuyết được nhiều người biết tới nhất cho rằng, Mã Hoàng hậu Mã Tú Anh chính là mẹ đẻ của Chu Đệ.
Sách “Lịch đại lăng tẩm bị khảo” của Chu Hảo Dương đời nhà Thanh có đoạn chép: “Hậu (tức Mã Hoàng hậu) sinh Ý Văn Thái tử, Thái Vương Hiệp, Tấn Vương Đồng, Thành Tổ (tức Chu Đệ), Chu Vương”.
Như vậy, Chu Hảo Dương đã nói rất rõ, Chu Đệ là con thứ tư của Chu Nguyên Chương với người vợ cả, Hoàng hậu Mã Tú Anh.
Thực tế, giả thuyết này bắt nguồn từ sử sách của triều Minh chẳng hạn như “Thái Tổ thực lục”, “Thái tông thực lục”, “Tịnh Nạn sự tích”, “Ngọc Điệp”,…
Trong sách “Tịnh Nam sự tích” cũng có một đoạn chép tương tự về mẹ ruột của Chu Đệ: “Cao Hoàng hậu sinh 5 người con trai.
Con trưởng là Ý Văn Hoàng thái tử, thứ 2 là Tần Mẫn Vương Hiệp, thứ 3 là Tấn Cung Vương Đồng, thứ 4 là Thành Tổ, thứ năm là Chu Định Vương”.
Bản thân Chu Đệ cũng tự nhận mình là con của Mã Hoàng hậu. Sử sách ghi chép không ít lần ghi chép về điều này. “Mỗi lần Chu Đệ tự xưng đều nói: Trẫm là con thứ tư của Mã Hoàng hậu”.
Tuy nhiên, những tài liệu thuộc loại “mật sử” lại nói rằng, Mã Hoàng hậu vốn không có khả năng sinh sản, do vậy cả đời Mã Hoàng hậu không hề có con.
Cả năm người con của Mã Hoàng hậu được ghi chép trong chính sử từ thái tử Chu Tiêu, Yên Vương Chu Đệ đều là do người khác sinh.
Cách thức “có con” của Mã Hoàng hậu là cách thức truyền thống mà hoàng gia triều đình phong kiến thường áp dụng: Lấy con do người khác sinh ra làm con của mình.
Việc lưu truyền những câu chuyện dã sử dạng này đã khiến câu đố về người mẹ ruột của Chu Đệ càng trở nên mơ hồ.
2. So với giả thuyết thứ nhất thì giả thuyết về người mẹ có nguồn gốc Triều Tiên của Chu Đệ cũng được rất nhiều người ủng hộ. Lý do là những chứng cớ mà người ta đưa ra để chứng minh cho giả thuyết này rất đầy đủ.
Sách “Nam Kinh thái thường tự chí” có đoạn chép: “Hiếu lăng thờ Thái Tổ Cao Hoàng Đế (tức Chu Nguyên Chương) và Cao Hoàng Hậu Mã thị.
Ngay sát bên trái là một vị Thục phi họ Lý, người sinh ra Ý Văn thái tử, Tần Mẫn Vương, Tấn Cung Vương.
Tiếp theo về phía trái là một hoàng phi sinh Sở Vương, Lỗ Vương, Đại Vương, Sính Vương, Tề Vương, Thục Vương, Cốc Vương, Đường Vương, Y Vương, Đàm Vương.
Vị trí thứ ba về bên trái là một hoàng quý phi sinh ra Tương Hiến Vương, Túc Vương, Hàn Vương, Thẩm Vương.
Vị trí thứ 4 về phía trái là một hoàng quý nhân, sinh Liêu Vương.
Vị trí thứ 5 về phía trái là một hoàng nhân sinh Ninh Vương, An Vương. Bên phải là một Thạc Phi, sinh ra Thành Tổ Văn Hoàng đế (tức Chu Đệ)”.
Thái thường tự là một cơ quan do hoàng gia lập nên, do vậy, “Nam Kinh Thái thường tự chí” chính là văn bản do hoàng gia chịu trách nhiệm biên soạn. Những gì cuốn sách này ghi chép chắc chắn là chính xác và có độ tin cậy cao.
Trong một cuốn sách khác của Thẩm Huyền Hoa người thời Minh cũng có chép: “Các phi tần khác đều được chôn ở phía Đông, duy chỉ có một phi Tần được chôn ở phía Tây. Đó là vì bà phi này sinh ra Thành Tổ, những phi tần khác không thể sánh được”.
Chính vì ghi chép này của Thẩm Huyền Hoa rất nhiều sử gia nổi tiếng đương đại ở Trung Quốc đều tin rằng, thân mẫu của Chu Đệ chính là Thạc phi Lý thị.
Thạc phi vốn là một mỹ nữ được người Cao Ly, nay là Triều Tiên tiến cống cho Chu Nguyên Chương sau đó được Chu Nguyên Chương nạp làm phi rồi sinh ra Chu Đệ.
Giả thuyết này xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn “Dưỡng hòa hiên tùy bút” của một học giả nổi tiếng thời Dân quốc là Trần Tác Lâm.
Trong tác phẩm này, Trần viết: “Tôi khi nhỏ đi chơi chùa Đại Báo Ân ở phía nam thành thì thấy bên trong cửa chính, đại điện đóng im ỉm. Hỏi các bậc phụ lão xung quanh thì họ bảo: ‘Nơi này đã trở thành điện thời Thạc phi, mẹ đẻ của Minh Thành Tổ rồi.
Thạc phi vốn là người Cao Ly, sinh ra Yên Vương. Sau đó Cao hậu (tức Mã Hoàng hậu) nuôi làm con của mình. Sau đó, Thạc phi bị xử tội chết còn chịu hình mặc quần sắt.
Vì vậy, sau khi Vĩnh Lạc lên ngôi đã cho xây chùa tháp để báo đáp ơn mẹ ruột của mình’. Những điều họ nói không giống với ghi chép trong sử sách, có thể chỉ là lời bịa đặt.
Sau đó, tôi có đọc “Nam Kinh thái thường tự chí” của Chu Trúc Đà Bạt thấy có nói rằng, Thành Tổ là do Thạc Phi sinh ra.
Sau đó lại xem sách “Táo lâm tạp trở” của Đạm Thiên cũng có nói rằng: Hiếu Từ Cao Hoàng hậu không có con trai, từ Ý Văn thái tử Chu Tiêu cho tới Tần, Tấn Vương cũng đều là do Lý Thục phi sinh ra. Thấy rằng sách nói về chuyện này không hề ít, có lẽ không hẳn là vô căn cứ”.
Việc Chu Nguyên Chương xử Lý thị tội chết, theo giả thuyết này chính là do Chu Đệ. Lúc bấy giờ, Lý thị mang thai nhưng chưa đến tháng thì Chu Đệ đã vội ra đời. Chu Đệ vốn là một đứa trẻ sinh non.
Chính vì thế, Chu Nguyên Chương nghi ngờ rằng Chu Đệ không phải là con của mình mà là do Lý thị đã thông gian với người khác và đã mang thai trước khi được mình sủng hạnh.
Hoàng đế phát hiện bị cắm sừng đương nhiên nổi giận đùng đùng, phán Lý thị tội chết và phải chịu hình phạt “quần sắt”.
Đây là một hình phạt rất thảm khốc thời nhà Minh, người chịu tội phải mặc một chiếc quần bằng sắt đã được nung nóng, khiến da thịt bỏng tróc hết ra, đau đớn mà chết.
Sau này, khi Chu Đệ biết được câu chuyện về mẹ ruột của mình vì mình mà phải chết rất lấy làm ân hận.
Vì vậy, sau khi lên ngôi Hoàng đế vào năm Vĩnh Lạc thứ 10, tức năm 1412, Chu Đệ đã cho xây dựng tòa tháp Đại Báo Ân Tự ở Nam Kinh để ghi nhớ công ơn của người mẹ thân sinh ra mình.
Người ta còn kể rằng, do không muốn để lộ chuyện mình không phải là con ruột của Mã Hoàng hậu, tức là dòng chính thất, Chu Đệ đã tuyên bố rằng mình xây tháp này là để báo ơn dưỡng dục của Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu.
Cũng vì thế, vào lúc bấy giờ, Đại Báo Ân Tự tháp cả năm đóng kín cửa không có ai ra vào, trở thành nơi “cấm địa” nhằm bảo vệ bí mật động trời này.
Có người sau đó lẻn vào trong tháp mới phát hiện ra rằng, người được thờ trong tháp là Thạc phi chứ không phải là Mã Hoàng hậu.
Tuy nhiên, tất cả những điều này đều là do người đời sau viết ra, độ tin cậy như thế nào vẫn rất khó xác định.
Hơn nữa, trong thực tế, việc người Cao Ly xưng thần và cống nộp mỹ nữ cho triều đình nhà Minh bắt đầu từ năm 1365.
Trong khi đó, theo ghi chép của sử nhà Minh thì Chu Đệ sinh năm 1360, nghĩa là khi các mỹ nữ Cao Ly được đưa vào cung điện nhà Minh thì Chu Đệ đã 5 tuổi.
Vì vậy, rất khó có chuyện Chu Đệ là do một phi tần xuất thân từ Cao Ly sinh ra. Nếu theo sử liệu này thì giả thuyết Lý thị là mẹ ruột của Chu Đệ là không có căn cứ.
3. Giả thuyết thứ 3 cho rằng, Chu Đệ là con của Chu Nguyên Chương với Hồng Cát Lạt thị, một phi tần của Thuận Đế nhà Nguyên.
Câu chuyện về Hồng Cát Lạt thị bắt đầu từ khi Chu Nguyên Chương còn chưa trở thành Hoàng đế.
Vào những năm Chí Chính nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương theo Quách Tử Hưng khởi binh chống lại nhà Nguyên. Sau đó, Quách Tử Hưng bị bệnh chết, Chu Nguyên Chương thay thế trở thành người đứng đầu quân khởi nghĩa.
Do tài năng cầm quân, lại gian xảo, quân của Chu Nguyên Chương đã nhanh chóng chiếm được Tập Khánh, nay chính là Nam Kinh rồi tấn công chiếm luôn Đại Đô, nay là Bắc Kinh.
Nguyên Thuận Đế thấy thế lực của Chu Nguyên Chương ngày một mạnh, biết nhà Nguyên khó giữ vì vậy bèn bỏ Đại Đô lui về trấn giữ Mông Cổ.
Sau khi Chu Nguyên Chương vào thành Đại Đô, tự mình tới hậu cung của Thuận Đế và gặp một mỹ nữ trong đám nạn dân. Người phụ nữ này không chỉ xinh đẹp mà ánh mắt còn lúng liếc đa tình, Chu Nguyên Chương vừa nhìn thấy đã thích ngay bèn giữ lại làm phi.
Người phụ nữ này chính là Cách Lặc Đức Hợp Đồn, phi tử thứ ba của Thuận Đế. Cách Lặc Đức Hợp Đồn là con gái của quan thái sư Hồng Cát Lạt Thác.
Câu chuyện tới đây thì trở nên phức tạp. Bởi lẽ, trước khi Chu Nguyên Chương chiếm được Bắc Kinh, Hồng Cát Lạt thị đã mang thai 7 tháng do vậy khi chạy khỏi Bắc Kinh Thuận Đế không tiện đem người phi này đi theo.
Chính vì vậy, Thuận Đế không chỉ để lại cho Chu Nguyên Chương một người vợ mà còn để lại một đứa con. Hai tháng sau khi về với Chu Nguyên Chương, Hồng Cát Lạt thị sinh ra một người con trai.
Người con này chính là Chu Đệ. Người ta nói rằng, lúc bấy giờ, Chu Nguyên Chương biết rằng đứa con do Hồng Cát Lạt thị sinh ra không phải là con trai mình cũng không muốn nhận đứa con này.
Tuy nhiên, Chu Nguyên Chương nhìn thấy mặt mũi của Chu Đệ hơn người, nên rất thích thú đứa trẻ này.
Hơn nữa, nếu như chuyện một phi tần trong cung Hoàng đế lại sinh ra một đứa con của người đàn ông khác được truyền ra bên ngoài thì cũng chẳng phải là chuyện hay ho gì.
Chính vì thế, Chu Nguyên Chương dù không muốn cũng không thể không nhận đứa con này.
Câu chuyện này sau đó lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian.
Oái oăm hơn nữa là tướng mạo của Chu Đệ quả thực hoàn toàn khác so với những người anh em của mình và chẳng có chút nào giống với Chu Nguyên Chương. Điều này càng khiến người ta thêm nghi ngờ về nguồn gốc xuất thân của Chu Đệ.
Thậm chí, trong dân gian từ thời đó người ta đã gọi Chu Đệ là người Mông Cổ. Tuy nhiên, theo như ghi chép của sử sách thì thành Đại Đô thất thủ vào năm Chí Chính thứ 28, tức năm 1368 sau Công nguyên.
Trong khi đó Chu Đệ lại sinh vào năm Chí Chính thứ 20, tức năm 1360. Như vậy, khoảng cách thời gian lên tới bảy tám năm.
Chính vì thế, giả thuyết này được coi là thiếu căn cứ xác thực nhất. Trong suốt cuộc đời mình, Chu Đệ cũng chưa bao giờ nói đến việc mình là con của Hồng Cát Lạt thị.
Nhiều người cho rằng, việc xuất hiện giả thuyết này có lẽ là vì dân gian nghĩ ra để “chửi xéo” Chu Nguyên Chương và Chu Đệ.
Cha thì giết người không ghê tay, là Hoàng đế mà không thực hiện điều nhân nghĩa, còn thì lên ngôi phi pháp, không phải dòng chính mà vẫn tìm cách soán đoạt.
Nói theo cách nói ngày nay là dùng chính biến quân sự để đoạn quyền. Như thế, nếu như Chu Nguyên Chương bất nhân thì Chu Đệ chính là kẻ bất hiếu.
4. Người phụ nữ thứ 4 được coi là mẹ ruột của Chu Đệ là một người phụ nữ Mông Cổ là Ông thị. Cũng giống như Hồng Cát Lạt thị, Ông thị cũng là một phi tử của Thuận Đế nhà Nguyên. Nhưng cũng có người nói, thật ra Ông thị cũng chính là Hồng Cát Lạt thị.
Trong ngôn ngữ của người Trung Quốc âm “Hồng” và âm “Ông” có âm đọc gần giống nhau. Chính vì vậy, nhiều người đã đã gọi Hồng Cát Lạt thị là Ông thị.
Những người đời sau do không tìm hiểu kỹ, đã nghĩ rằng Ông thị là một người phụ nữ Mông Cổ khác chứ không phải là Hồng Cát Lạt thị.
Tuy nhiên, đó chỉ là một suy đoán còn trong thực tế vẫn tồn tại một giả thuyết rằng Ông thị là mẹ ruột của Chu Đệ.
Trong cuốn sách có tên “Quảng Dương tạp ký” của Lưu Hiến Đinh có đoạn chép: “Minh Thành Tổ không phải là con của Mã Hoàng hậu.
Mẹ của ông ta là Ôngn thị, một người Mông Cổ. Do Ông thị là một phi tử của Nguyên Thuận Đế nên việc này được giữ kín.
Tuy nhiên, Thành Tổ thì không quên người mẹ ruột Mông Cổ của mình. Thành Tổ còn cho xây dựng trong cung một ngôi miếu riêng để thờ phụng bài vị của người mẹ này”.
Lưu Hiến Đình là người thời nhà Thanh, do vậy những gì ông ta viết trong cuốn sách của mình cũng không khác gì nhiều so với các nhà sử học thời nay, nghĩa là nó chỉ là quan điểm cá nhân.
Hơn nữa, căn cứ để Lưu Hiến Thành viết nên câu chuyện này hoàn toàn dựa vào những lời kể của những người buôn bán ở Bắc Kinh. Hơn nữa, lúc đó, Lưu Hiến Thành cũng còn nhỏ. Do vậy, những gì Lưu Hiến Đình nói chưa chắc đã là sự thực.
Liên quan tới Ông thị còn có một thuyết khác bắt nguồn từ Vương Kiển, một nhà nghiên cứu Quốc học thời cận đại.
Trong cuốn sách “Cô lư tạp xuyết” của Vương Kiển có chép: “Khi còn nhỏ khi cùng thầy Ngô Mộng Triếp ngao du, thầy có nói: ‘Khi hạ thành Nam Kinh, quan quân có tìm thấy một tấm bia do chính Minh Thành Tổ ra lệnh khắc chôn ở dưới Báo Ân Tự tháp.
 image002
Ông vua Chu Đệ.
Trong tấm bia này nói rằng: Mẹ ruột của Minh Thành Tổ là Ông Cát Lạt thị, Ông thị vốn là một phi tử của Thuận Đế nhà Nguyên. Sau khi vào cung nhà Minh chỉ 6 tháng thì sinh.
Theo quy chế nhà Minh, những người vào cung, trong vòng 7 tháng mà sinh con sẽ phải chịu cực hình. Tuy nhiên, Mã Hoàng hậu nhân từ bèn nhận đứa con do Ông thị sinh ra làm con của mình.
Chính vì vậy, ngày sinh của Thành Tổ chỉ cách ngày sinh của Ý Văn thái tử đúng 10 tháng. Ông thị sau khi sinh con vì buồn khổ mà chết.
Trước khi qua đời, Ông thị đã nhờ người vẽ một bức chân dung mình rồi đem chuyện mình là mẹ ruột của Thành Tổ nói với vú nuôi của Thành Tổ và nhờ người phụ nữ này rằng khi Thành Tổ lớn lên thì nói cho Thành Tổ biết sự thật.
Khi Thành Tổ được phong làm Yên Vương, người vú nuôi này đã theo lời nhờ cậy của Ông thị nói lại mọi chuyện với Thành Tổ. Chính vì Thành Tổ biết sự thật nên sau này mới quyết định tổ chức binh biến, soán ngôi của Minh Huệ Đế’”.
Câu chuyện của Vương Kiển cho thấy, suy đoán về việc người ta nhầm lẫn giữa chữ Hồng và chữ Ông là có thật. Tuy nhiên, cũng cần phải lưu ý rằng, những gì Vương Kiển ghi chép trong cuốn sách của mình chỉ là “nghe thầy nói”.
Thầy của Vương Kiển lại chỉ nghe một người phụ tá của Tăng Quốc Phiên nói. Do vậy, căn cứ của câu chuyện này cũng rất khó tin cậy.
4. Trong bốn người phụ nữ trên đây, ai mới thực sự là mẹ ruột của Chu Đệ. Theo những gì đã nói thì Mã Hoàng hậu và Thạc phi Lý thị có lẽ là hai “ứng cử viên” nặng ký nhất.
Tuy nhiên, nếu so sánh Mã Hoàng hậu và Lý thị thì có lẽ Mã Hoàng hậu là mẹ ruột của Chu Đệ mới là một kết luận hợp lý.
Bởi lẽ, giả thuyết về Lý thị cũng không khác nhiều so với hai người phụ nữ Mông Cổ là Hồng Cát Lạt thị và Ông thị. Ngày tháng họ sinh nở hoặc vào cung đều cách thời gian mà Chu Đệ được sinh ra tới cả chục năm.
Nhiều người cũng cho rằng, trước khi Chu Đệ soán ngôi của cháu ruột là Minh Huệ Đế việc Chu Đệ do một phi tử sinh ra là chuyện chẳng ai tranh cãi.
Tuy nhiên, sau khi Chu Đệ lên ngôi Hoàng đế thì mọi chuyện trở nên phực tạp. Nguyên nhân có lẽ bắt nguồn từ hành động soán đoạt của Chu Đệ. Trong quan niệm thời bấy giờ, soán đoạt chính là một việc “đại nghịch bất đạo”, không thể tha thứ.
Do vậy, nếu như Chu Đệ là con của một phi tử chứ không phải là do Mã Hoàng hậu sinh ra thì tội trạng của Chu Đệ càng nặng hơn.
Bởi lẽ, nếu như không phải con do Hoàng hậu sinh ra thì càng không có tư cách để lên ngôi Hoàng đế.
Có lẽ chính vì điều này nên sau khi lên ngôi, Chu Đệ đã ra lệnh cho các sử quan viết lại về nguồn gốc xuất thân của mình để tránh việc người ta dị nghị, nói ra nói vào.
Như vậy, vì sao lại xuất hiện nhiều giả thuyết liên quan tới mẹ ruột của Chu Đệ như vậy? Các sử gia cũng cho rằng, điều này liên quan tới hành vi soán đoạt của Chu Đệ.
Khi đó, hành động soán ngôi của Chu Đệ được coi là “đại nghịch bất đạo” do vậy không được lòng dân. Chính vì vậy, người ta mới nghĩ ra câu chuyện Chu Đệ là con của một phi tử của vua Thuận Đế nhà Nguyên để “chửi xéo” Chu Đệ.
Bởi là con của phụ nữ Mông Cổ nên Chu Đệ mới tàn nhẫn tới mức giết con của Chu Nguyên Chương để ngồi lên được ngôi Hoàng đế.
Các nhà sử học hiện nay đều khẳng định rằng, cuốn “Minh sử”, cuốn sử được cho là quyền uy nhất về triều đình nhà Minh đã bị Vạn Tư Đồng biên soạn lại. Trong đó có rất nhiều chi tiết đã bị họ Vạn sửa đổi cho “vừa lòng” nhà Thanh khi đó vừa thay nhà Minh thống trị Trung Quốc.
Chuyện nguồn gốc của xuất thân của Chu Đệ thực chất cũng chỉ là một trong số rất nhiều chi tiết đã bị sửa đổi.
Cho tới hiện tại, tài liệu được cho là đáng tin cậy nhất chứng minh việc Chu Đệ là con của người khác chứ không phải của Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu chính là “Nam Kinh thái thường tự chí”.
Tuy nhiên, theo khảo cứu của các nhà sử học thì cuốn sách này cũng đã bị sửa đổi. Người sửa đổi chính Trương Đình Ngọc, Đại học sĩ Bảo Hòa Điện của Thanh Triều, tiến sĩ do chính Khang Hy ngự phong vào năm 1700.
Tuy nhiên, cũng cần phải nói rằng, về danh nghĩa Chu Nguyên Chương có khoảng một hai chục người con trai, tuy nhiên không hẳn tất cả đều là “tác phẩm” của ông vua khai quốc triều Minh này.
Người ta nói rằng, Chu Nguyên Chương có sở thích chiếm vợ của người khác để thể hiện rằng mình là đàn ông, mình có sự quyền lực.
Vì vậy, ngoại trừ người phi tử của Thuận Đế nhà Nguyên, khi đánh bại đối thủ là Trần Hữu Lượng, Chu Nguyên Chương cũng chiếm vợ của Trần là Đô thị về làm thiếp.
Khi đó Đô thị đã mang thai, không lâu sau thì sinh ra giọt máu của Trần Hữu Lượng. Chu Nguyên Chương biết nhưng vẫn coi đó như con mình, thậm chí còn phong người con này làm Đàm Vương.
Các sử gia đều nói đây chỉ là chuyện dã sử trong dân gian, cũng chỉ giống như chuyện Chu Đệ là con của Thuận Đế nhà Nguyên mà thôi.
Tuy nhiên, người xưa có câu, “không có lửa làm sao có khói”, bên trong chắc hẳn không thể không có nội tình được.
Ghi chú : Đầu đề do trang chủ sửa lại .

21.07.2014 / Văn Nhân

Từ Nam Việt đến Đại Việt


Bách Việt trùng cửu – nguồn http://báchviệt18.vn

Tôi kể chuyện xưa sử nước Nam
Thái Bình tuấn kiệt nổi Lưu Bang
Quân Thần Lý Lữ chia thiên hạ
Tây Thổ Triệu Trưng rủ áo vàng
Bi tráng một thời kìa Tích Đặng
Hùng anh sáu kỷ đó Hà Nam
Cao Vương Tĩnh Hải lưu thành cổ
Đại Việt rồng bay kết vẻ vang.

 

13.07.2014 / Văn Nhân

Nước Nam Việt và 2 vị vua Triệu


Bách Việt trùng cửu – nguồ̀n  http://báchviệt18.vn/

Nếu như thời đại Hùng Vương, kể cả thời Thục An Dương Vương, bị chìm trong huyền thoại, dẫn đến sự nghi ngờ về tính chân thực của những câu truyện còn truyền lại thì chuyện nước Nam Việt của Triệu Đà không còn là truyền thuyết nữa. Nhưng tại sao những câu hỏi về quốc gia “đầu tiên” trong chính sử Việt này lại nhiều đến vậy mà chưa có lời giải? Những nhận định về tính chính thống của nhà Triệu trong sử Việt cứ bị đảo qua đảo lại mãi mà không có kết luận.
Tạ Đức trong nghiên cứu Nguồn gốc người Việt người Mường của mình đã làm một tổng quan đầy đủ các nhận định từ trước tới nay về nhà Triệu và nước Nam Việt. Tuy nhiên tác giả cũng không đi đến kết luận gì cụ thể mà chỉ đưa ra khuyến cáo: “việc thừa nhận Triệu Đà là một vị vua của Việt Nam… rất đáng để … lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông và trân trọng”…
Cái sự “lờ mờ” về nguồn gốc và công trạng của Triệu Đà là do từ những “hỏa mù” đã được các sử gia Tàu tung ra quanh các tư liệu về vị vua này. Các nhà nghiên cứu không loại bỏ đám “bụi mù” đó thì còn lẫn lộn ta và giặc mãi.
Ví dụ, Tạ Đức viết: “Về thân thế Triệu Đà, Sử ký và Hán thư ghi ông là người Chân Định, Hà Bắc, xưa thuộc nước Triệu nên mang họ Triệu. Năm 228 TCN, Tần diệt Triệu, Triệu Đà thành người Tần, làm tướng Tần…”.
Sử kýHán thư chỉ ghi: “Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy”. Chẳng có cổ thư nào chép Chân Định là Hà Bắc và Hà Bắc là nước Triệu cả. Việc sử dụng những “định vị thứ cấp” của sử Tàu này dẫn đến nhận định hoàn toàn sai về vua Nam Việt. Chân Định là tên cũ của huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Nơi đây còn di tích đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái thờ Triệu Vũ Đế và vợ là Trình Thị. Triệu Đà quê ở Thái Bình, là người Việt rõ ràng chứ không phải người nước Triệu ở tận bắc Hoàng Hà.

KHỞI NGHĨA KHÁNG TẦN
Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
3 đoạn trích này có thể tóm tắt thành như sau: Năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng lập 3 quận Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải trên vùng đất Việt. Người Việt bỏ vào rừng chống lại quân Tần. Năm 207 TCN Triệu Đà, quận úy Nam Hải, đánh chiếm Quế Lâm, Tượng Quân, xưng là Nam Việt Vũ Vương.
Như vậy là “hai năm rõ mười”, Triệu Đà chứ không phải ai khác là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, đã toàn thắng, chiếm lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt trước đó. Các sử gia ngày nay hoàn toàn sai lầm khi cho rằng “người Tuấn kiệt” làm tướng kháng Tần những năm này là Thục Phán. Dòng dõi cuối cùng Âm Dương Vương (An Dương Vương) là Dịch Hậu Tông (Dịch Hu Tống) đã bị Tần diệt từ năm 256 TCN sau chuyện con thứ của Tần Vương là Trọng Thủy lừa nàng Mỵ Châu, dẫn đến cơ đồ nhà Thục “đắm biển sâu”. Làm gì còn vua Thục nào chống Tần vào sau đó nữa.

Dong Xam_1Đền Đồng Xâm, xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình.

Câu đối ở cổng đền Đồng Xâm, bên cửa sông Trà Lý:
弌方海島別拓太平基為我國帝统之始
萬古江山長存南越號與漢家天子熟賢
Nhất phương hải đảo biệt thác Thái Bình cơ /vi ngã quốc đế thống chi thủy
Vạn cổ giang sơn trường tồn Nam Việt hiệu /dữ Hán gia thiên tử thục hiền.
Dịch:
Một phương biển đảo riêng mở cơ đồ Thái Bình, là đế quân nước ta khởi thủy
Vạn năm sông núi mãi còn tên hiệu Nam Việt, cùng nhà Hán thiên tử tốt lành.
Triệu Vũ Đế là người Chân Định đúng như sử sách chép, tức là người Thái Bình. Khởi nghĩa của Triệu Đà bắt đầu từ huyện Long Xuyên nơi Triệu Đà trấn nhiệm. Long Xuyên nay là Long Biên, nơi còn điện Long Hưng thờ Triệu Vũ Đế tại xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên. Từ Long Biên Triệu Vũ Đế mới dẫn quân đánh chiếm các nơi, lấy lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt trước đó là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (Quảng Tây) và Tượng quận (Vân Nam). Chi tiết này còn được ghi trong câu nói của Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn:
Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…
Nếu Triệu Vũ Đế bắt đầu sự nghiệp ở Quảng Đông (Phiên Ngung) thì còn đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm làm gì? Huyện Long Xuyên nơi Triệu Đà trấn nhiệm là Long Biên nằm ở cạnh bờ sông Hồng chứ không phải ở bên Quảng Tây.

HAI VỊ TRIỆU ĐÀ
Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: “… Cao Hậu mất… Đà nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn dặm. Đà bèn đi xe mui lụa mầu vàng cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là “chế”, chẳng kém gì Trung Quốc”.
Cao Hậu là Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang, mất năm 180 TCN. Các sử gia hiện nay dựa vào đoạn trích trên xác định lại: năm 179 TCN Triệu Đà mới đánh Âu Lạc của An Dương Vương…, tức là tới gần 30 năm sau so với thời điểm Triệu Đà xưng Nam Việt Vũ Vương trước đó khi nhà Tần sụp đổ… Kết quả thành ra Triệu Đà thọ 121 tuổi như Đại Việt sử ký toàn thư chép.

Trieu Vu De_1

Tượng Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng, Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Câu đối ở điện Long Hưng, Xuân Quan:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một vùng vắng bóng Tần, vạn dặm mở ra vời xa Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, ngàn năm gây nền vững vàng đế vương.
Cần chú ý là cuốn Sử ký được Tư Mã Thiên viết dưới thời Hiếu Vũ Đế từ quãng năm 109 đến 91 TCN. Còn nhà Triệu Nam Việt thì mới chỉ kết thúc trước đó vài năm vào năm 111 TCN khi Lộ Bác Đức bắt vị vua Triệu cuối cùng của Nam Việt là Vệ Dương Vương. Nước Nam Việt như vậy đã tồn tại độc lập với nhà Tây Hán khoảng 70 năm. Thậm chí không chỉ là độc lập mà còn là quốc gia đã đối đầu với nhà Tây Hán trong suốt thời gian này. Trong bối cảnh như vậy, Tư Mã Thiên hẳn sẽ không có đủ tư liệu để nhìn nhận đúng nguồn gốc các vị vua khai sáng nước Nam Việt, dẫn đến những khúc mắc khó hiểu trong sử liệu để lại.
Những thiếu sót này được tư liệu dân gian từ vùng đất quê gốc của Triệu Vũ Đế ở Chân Định (Kiến Xương, Thái Bình) bổ sung, chỉnh lý. Đôi câu đối trước cửa đền thờ hoàng hậu của Triệu Đà là Trình Thị ở Đồng Xâm chép:
何年開七君帝途正金殿留双府月
此地肇二南王化前恭古至一神能
Hà niên khai thất quân đế đồ/ chính kim điện lưu song phủ nguyệt
Thử địa triệu nhị Nam vương hóa/ tiền cung cổ chí nhất thần năng.
Dịch:
Năm nào mở nghiệp bảy vương quân, chính điện vàng lưu ánh trăng hai phủ
Đất này sinh hóa hai Nam đế, trước đền xưa tỏ tài sức một thần.

Trinh thi_1

Cửa đền Trình Thị ở Đồng Xâm và đôi câu đối.

Câu đối này cho thông tin rất lạ. Hoàng hậu Trình Thị và Triệu Vũ Đế đã mở nghiệp cho 7 vị quân đế nhà Triệu. Và vùng đất này đã khởi đầu 2 vị Nam vương.
Vế đối sau cho một gợi ý: có 2 vị vua khai sáng nước Nam Việt nhà Triệu… Chỉ như vậy mới giải quyết được những khúc mắc về 2 lần xưng đế của Triệu Đà ghi trong Sử ký Tư Mã Thiên và tuổi thọ 121 năm của vị vua này.
Vị vua Triệu thứ nhất được gọi là Vũ Đế, là người đã lãnh đạo nhân dân Việt từ huyện Long Biên kháng Tần thắng lợi năm 207 TCN. Vị vua Triệu thứ hai là người đã nổi dậy ở Phiên Ngung sau khi Cao Hậu mất năm 180 TCN, thu phục Mân Việt và Tây Âu Lạc vào nước Nam Việt. Vị vua Triệu thứ hai là Triệu Văn Vương, là cháu của Triệu Vũ Đế (vị vua Triệu thứ nhất) theo đúng như “gia phả” nhà Triệu đã chép trong Sử ký Tư Mã Thiên. Công nghiệp của 2 vị vua Triệu này đã bị chép chung thành 1, dẫn đến những điều mâu thuẫn như đã nêu trên.
Lăng mộ Triệu Mạt được tìm thấy ở Quảng Đông với ấn Văn đế hành tỷ là lăng mộ của Triệu Đà thứ hai, người khởi đầu nước Nam Việt sau thời Lữ Hậu. Mạt = Một, Đà = Đầu. Triệu Mạt nghĩa là Triệu Một hay Triệu Đầu, vị vua đầu của Nam Việt. Cả Triệu Vũ Đế và Triệu Văn Đế đều gọi là Triệu Đà vì đều mở đầu nước Nam Việt, là 2 vị Nam vương được nhắc đến trong câu đối ở đền Trình Thị.
Theo Sử ký Tư Mã Thiên nhà Triệu Nam Việt có 5 vị vua nối tiếp nhau là Vũ Vương, Văn Vương, Minh Vương, Ai Vương và Vệ Dương Vương. Nhưng câu đối ở đền Trình Thị (Đồng Xâm) lại cho biết dòng dõi nhà Triệu có tới 7 vị quân đế. Như vậy khoảng giữa Triệu Vũ Vương (Triệu Đà 1) và Triệu Văn Vương (Triệu Đà 2) còn có 2 vị vua nữa. Vì Văn Vương là cháu của Vũ Vương nên suy ra 2 vị vua “dư ra” này phải là hàng con của Triệu Vũ Vương và hoàng hậu Trình Thị. Đây là Hiếu Huệ Đế và Thiếu Đế của nhà Tây Hán, 2 vị vua nối tiếp Hiếu Cao Lưu Bang… bởi vì Triệu Vũ Đế chính là Lưu Bang, người đã chiếm Quan Trung của nhà Tần năm 206 TCN (trùng thời điểm với thắng lợi của Triệu Vũ Đế trước nhà Tần).
Lưu Bang khi khởi nghĩa được gọi là Bái Công, tế cờ ở Bái Đình. Bái Đình là đọc phản của Thái Bình, Thái Bình phản thiết Bái. Bái Công Lưu Bang là Triệu Vũ Đế ở Thái Bình. Hoàng hậu Trình Thị không phải ai khác chính là Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang. Trình Thị thiết Trị hay Trĩ, là tên của Lữ Hậu theo sử sách.

Cũng vì Lưu Bang và Lữ Hậu là tiền nhân của Triệu Văn Vương (Triệu Đà 2) nên vị vua Triệu này mới có “mồ mả cha mẹ” ở phương Bắc như Sử ký Tư Mã Thiên chép. Điều này đã dẫn đến nhận định sai rằng Triệu Đà là người phương Bắc.

Câu đối ở đền Đồng Xâm:
炎郊創始輿圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ /bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn /đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết /tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú /diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Dịch:
Viêm Giao sáng lập địa đồ, giữ con cháu cha Rồng mẹ Tiên, đương cùng triều Hán hai đế quốc
Làng quê ngất thành cung khuyết, hợp linh tú biển Trà sông Động, với ngoài Phiên Ngung một kinh thần.
Nhà Triệu Nam Việt là một triều đại của đất Viêm Giao (Viêm Bang Giao Chỉ, tức là đất Việt), là con Rồng cháu Tiên chính thống. Triệu Vũ Đế quê ở miền sông Trà (Trà Lý) biển Động Đình (biển Đông). Cái tên nước Nam, vua Triệu còn in đậm trong suốt chiều dài lịch sử nước ta. Tới thời Lý nước Nam, vua Nam của người Việt còn vang trong bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Đừng ai vì không hiểu biết mà dại dột hạ bức hoành phi “Nam Việt triệu tổ” ở cửa đền Hùng (Phú Thọ) xuống, kẻo mà mang tội bất kính với tổ tiên.

Văn Nhân góp bàn .

 Sách chép :

…Lý Bôn hay Lý Bí sau khi lên ngôi hiệu là  Lý Nam Đế  quê gốc ở thôn Cổ Pháp, là một cậu bé thông minh, sớm hiểu biết. Khi Lý Bí 5 tuổi thì cha mất; 7 tuổi thì mẹ qua đời. Ông đến ở với chú ruột. Một hôm, có một vị  Pháp tổ thiền sư đi ngang qua, trông thấy Lý Bí khôi ngô, tuấn tú liền xin Lý Bí đem về chùa nuôi dạy…

Thông tin này Sao giống với thân thế Lý công Uẩn đến thế ; phải chăng vị Pháp tổ thiền sư chính là nhà sư Lý khánh Văn ?…

Sử Việt có qúa nhiều vua họ Lý lại trong hoàn cảnh không còn tư liệu gốc chính thức nên  sử gia  không thể phân biệt được đâu ra đâu …chộn lộn ráo cả lấy thông tin triều Lý này gán vào triều Lý kia rối như mớ bòng bong…

Cũng sử Việt viết …

Lý Bí cũng là Lý Bôn sau khi  lên ngôi vua xưng  là Nam Việt đế thường gọi là Lý Nam đế , Nam Việt đế hay Nam Việt Vũ đế không phải Triệu Đà thì là ai nữa ?.

Lý Bôn – Lưu Bang cũng là Triệu Đà – Triệu Vũ đế …chính là tổ của nước Nam Việt , Văn đế Triệu Mạt tức Triệu Một (không phải Triệu Hồ) là vua đầu triều đình phía Nam đô ở Quảng châu , Nam triều này song song tồn tại với triều đình  ở Trường An , phải chăng 2 triều Bắc và Nam chỉ là 2 cành cùng nảy ra từ 1 gốc là triều đại do Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang tức Lý Bôn – Lưu Bang – Triệu Vũ đế kiến lập ?.

Chính thông tin mang trong tên gọi điện Long Hưng thờ Triệu Đà – Triệu vũ đế đã giúp củng cố thêm cho lập luận này :
Long Hưng thực ra là nơi thờ lang Hưng tức Hưng vương …chính là Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang (chữ đức – đế thừa) trong cổ sử Việt , Trịnh vương không thể là ai khác ngoài Lý Bôn – Lưu Bang người đã kiến quốc nơi đất Nam Trịnh sau khi được Hạng Tịch chia đất . Người Hán đã lập lờ đánh lận con đen tráo trở bẻ cong lịch sử biến ‘Hưng’ thành ‘Hán’(Hán là hãn) nhằm tạo ra vẻ rực rỡ của nền văn minh lâu đời ảo cho đám người gọi chúa là ‘Hãn’ (ký âm La tinh là Khan) .
… “Đôi câu đối trước cửa đền thờ hoàng hậu của Triệu Đà là Trình Thị ở Đồng Xâm chép:
何年開七君帝途正金殿留双府月
此地肇二南王化前恭古至一神能
Hà niên khai thất quân đế đồ/ chính kim điện lưu song phủ nguyệt
Thử địa triệu nhị Nam vương hóa/ tiền cung cổ chí nhất thần năng.
Dịch:
Năm nào mở nghiệp bảy vương quân, chính điện vàng lưu ánh trăng hai phủ
Đất này sinh hóa hai Nam đế, trước đền xưa tỏ tài sức một thần.”…
Xin  bàn thêm với tác gỉa Bách Việt trùng cửu :
nhị Nam vương trong câu đối theo tôi là chỉ Lý Nam đế và hậu Lý Nam đế .
Trong  sử Việt  Lý Nam đế là đế hiệu của Lý Bôn , hậu lý Nam đế là Lý Phật tử .
-Lý Bôn Hán sử cạo sửa  thành Lưu Bang .
-Lý Phật tử cũng là Lý Bụt tử ; phiên thiết Hán văn cho : bụt tử thiết Bự  như vậy Lý Phật tử chính là Lý Bự …tam sao thất bổn thành ra  Lý Bí – Lưu Bị .
Câu hỏi đặt ra là tại sao nơi đền thờ Trình thị vợ của Triệu Đà lại nói đến Lý Bôn và Lý Phật Tử  tức Lý Nam đế và hậu lý Nam đế ?.
Chẳng phải lục tìm đâu xa , ngay trong bài viết đã có câu trả lời …
Trình thị thiết Trĩ , Lã Trĩ là hoàng hậu vợ của Lưu Bang , Lưu Bang là Lý Bôn  cũng chính  là Triệu Đà – Triệu Vũ đế  nên nơi đền thờ Trình thị mới có câu đối nói đến nhị Nam vương : Lý Nam đế và hậu Lý Nam đế .
07.07.2014 / Văn Nhân

Nhân đọc bài : Trao đổi với ông Tạ Đức về chữ “Lang”…


Ông  Trần Mạnh Đào đã viết bài trao đổi với ông Tạ Đức trên trang Web  http://vanhoanghean.com.vn/goc-nhin-van-hoa3/dien-dan38/trao-doi-voi-ong-ta-duc-ve-chu-lang.

Xin đăng lại toàn văn  .

Trong bài “Lại trả lời Bùi Xuân Đính” trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An ngày 24/6/2014 có phần bàn về chữ “Lang”. Tác giả dẫn ý kiến của  P. Maspero“từng nhận xét trong tên gọi nước Văn Lang, chữ Lang có nghĩa chó sói có thể có liên hệ với tên gọi Lang Nhân (Người – Chó sói) chỉ con cháu Bàn Hồ…”.

Tôi thấy hơi lạ khi ông Tạ Đức được học sử từ lớp 3 đến đại học, lại là nhà Dân tộc học, mà lại theo quan điểm của P. Maspero đã bị nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam phê phán, bác bỏ. Không hiểu ông sử học người Tây này nghĩ như thế nào. Nước Văn Lang là do cư dân Lạc Việt và Âu Việt lập ra từ gần 4000 năm trước đây (theo truyền thuyết), còn theo chứng cứ khảo cổ học thì có thể muộn hơn nhiều. Theo cuốn “Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)” do Viện Dân tộc học biên soạn năm 1978, thì người Dao di cư sớm nhất vào Việt Nam từ thế kỷ XIII, sau thời điểm lập nước Văn Lang đến 20 thế kỷ, sao lại giải thích chữ “Lang” ở đây là “chó” gắn với người Dao được?

Nếu vận dụng cách giải thích của ông Đức theo quan điểm của P. Maspero “Lang” là “chó sói” để giải nghĩa các từ “lang quân”, “tân lang”, “tân giai lang” thì …sợ quá. Tôi không thể tin được. Vì thế, tôi đành phải tra từ điển xem ngoài nghĩa là “chó sói” như ông Đức viết, “Lang” còn có nghĩa gì?

Chưa cần tra “Từ Hải”, giở Từ điển Hán – Việt của Đào Duy Anh, tôi thấy cụ Đào liệt kê ra đến 27 chữ Lang, trong đó có 11 chữ đứng độc lập và 16 chữ ghép với các chữ khác.

Các chữ đứng độc lập có:

Lang (cũng đọc là “Lương”), nghĩa là giỏi (theo tôi còn có nghĩa là lương thiện). Chữ “Lương” này ghép với các bộ (đều đọc là “Lang”) sẽ có các chữ gắn với các nghĩa sau:

+ Lang(gắn với bộ “thảo đầu”) là loài cỏ sinh nơi đất thấp, cho trâu, ngựa ăn.

+ Lang (gắn với bộ “ngọc”) là một thứ ngọc thạch.

+ Lang (gắn với bộ “hòa”) là một loại cỏ làm hại lúa.

+ Lang (gắn với bộ “liễu leo”) là người con trai, đàn ông.

+ Lang (gắn với bộ “cẩu”) là con chó sói.

+ Lang (gắn với bộ “túc”) nghĩa là lang thang.

+ Lang (có bộ “trúc đầu”) là cây tre non.

Chữ Lương gắn với 2 bộ khác có các chữ và nghĩa như sau:

+ Lang : là cái chái nhà

+ Lang : (có bộ mộc) là cây cau.

+ Lang (có bộ “trùng”) là con châu chấu.

Chữ “Lang” ghép với 16 chữ khác có nhiều nghĩa rất phong phú, trong đó có chữ Lang (không ghép với bộ nào khác, đọc là “Lương”), ghép với chữ “Y” (lương y), nghĩa là người thầy thuốc giỏi. Các chữ khác tôi không dẫn lại vì dài dòng.

Như vậy, chữ “Lang” có nhiều âm khác nghĩa, khác cả cách viết, không thể chỉ có một nghĩa là “chó sói” như ông Tạ Đức viết. Chữ “Lang” ghép trong “Lang Liêu” có nghĩa là “chàng Liêu”; từ “quan lang” có nghĩa là “người làm quan”, còn có nghĩa một chức danh trong xã hội người Mường trước đây.

Nhiều làng xã ở Bắc Bộ thờ “Linh Lang đại vương”. “Linh Lang” cần hiểu là “Chàng Linh”, còn “đại vương” là duệ hiệu của thần. Cổng các đền thờ thần Linh Lang thường có ghi “Linh Lang từ”, trong  bản khai thần tích, thần sắc và sắc phong cho thần của các làng này, chữ “Lang” gồm chữ “Lương” và bộ “liễu leo”, không gắn với bộ “Cẩu”. Nếu giải thích “Lang” là chó, không biết thần có nổi giận không ông Đức nhỉ? Các cụ ở các làng này sẽ đánh giá trình độ của ông Tạ Đức ra sao?

Vậy tên nước Văn Lang của chúng ta? Nếu theo cách giải thích của ông Tạ Đức thì … khủng khiếp quá, không dám nói ra. Giở “Đại Việt sử ký toàn thư” (quyển 4, bản chữ Hán, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1998, trang 44, tờ a – b, đoạn chép về “Hùng Vương”), có chép “… Hùng Vương chi lập dã, kiến quốc hiệu Văn Lang…” (Hùng Vương lập nước, đặt quốc hiệu là Văn Lang). Chữ “Lang” gồm chữ “Lương” và bộ “liễu leo”, không đi kèm với bộ “Cẩu”. Hiện cũng có nhiều ý kiến giải thích về nghĩa “Văn Lang”. Có ý kiến cho rằng, không thể ghép các nghĩa đen của chữ “Văn” và chữ “Lang” để giải ý nghĩa của quốc hiệu này. Trong trường hợp này, có thế chữ “Lang” liên quan đến một âm cổ trong tiếng Việt.

Ý kiến ngắn trao đổi với ông Tạ Đức và mời bạn đọc cùng trao đổi cho rõ vấn đề./.

Hết phần trích đăng .

Văn Nhân góp bàn .

Như tác gỉa đã trưng dẫn trong Nho văn ; có rất nhiều chữ Lang tuy cùng đọc là Lang nhưng mỗi chữ có 1 nghĩa khác , vấn đề ở đây là trong quốc danh Văn Lang chữ “Lang” gồm chữ “Lương” và bộ “liễu leo” không phải là chữ Lang bộ ‘cẩu’, 2 chữ Lang hoàn toàn khác không thể  chữ nọ sọ chữ kia được nên đâu có gì phải bàn  .

Thực ra lang là từ tiếng Việt  , Người ta đã tạo ra chữ  lang trong  Nho văn bằng cách lấy chữ ‘lương’ để kí âm ghép với chữ ‘cả’ để chỉ ý , cẩu chỉ là kí âm của cả nghĩa là lớn nhất  ;  bản thân chữ lang bộ cẩu (cả) đã chỉ ra : lang  là ông lớn tức thủ lãnh đúng như suy đóan của tác gỉa bài viết … “Có ý kiến cho rằng, không thể ghép các nghĩa đen (theo Hán văn) của chữ “Văn” và chữ “Lang” để giải ý nghĩa của quốc hiệu này. Trong trường hợp này,  có thể chữ “Lang” liên quan đến một âm cổ trong tiếng Việt”  …như thế chẳng liên quan gì tới chó với sói như đoán già đoán non của đám ‘học gỉa’ Tàu (không học thật)  .

Theo tôi chữ Lang bộ Cẩu bị hiểu lầm liên quan tới chó sói là vì từ kép ‘lang sói’ hay ‘sài lang’ chỉ kẻ ác độc vô cùng , người Việt có thành ngữ ‘lòng lang dạ sói’,  tiếng Việt sói thì có nhưng không có con vật nào gọi là con ‘lang’ , ngay trong Hán văn thực ra lang không phải là chó sói vì đã có từ ‘sói’ để gọi con vật rồi thì còn đẻ  thêm từ ‘lang’ làm gì ?, chính mấy ông Tàu cũng lấn cấn chuyện này nên chữa cháy vớ vẩn …thấy chữ lang là ‘lương đi đôi với cẩu’  nên bịa ra …sói mắt nhỏ lang mắt to , sói mắt dọc lang mắt ngang …gì gì đó để giải thích từ kép ‘sài lang’ hay ‘lang sói’ không hiểu nổi .. .

Đi tìm nghĩa từ lang theo hướng khác .

Ngày nay trong ngôn ngữ 1 số dân tộc ít người ở phía bắc từ ‘lang’ chỉ tầng lớp lãnh đạo 1 cộng đồng cha truyền con nối ,  rõ nhất về nghĩa của từ ‘lang’ Việt ngữ nằm ngay trong ngọc phả Hùng vương nguyên bản (chưa sắp xếp lại) :

1 Hùng Dương Vương
2 Hùng Hiển Vương
3 Hùng Quốc Vương hay Thuấn Vương – Lâm Lang
4 Hùng Nghi Vương – Bảo Lang ( dị bản: Tân Lang)
5 Hùng Hy Vương – Viêm Lang ( dị bản: Hùng Anh Vương)
6 Hùng Hoa Vương – Hải Lang̣
7 Hùng Huy Vương – Long Tiên Lang
8 Hùng Chiêu Vương – Quốc Tiên Lang (dị bản Lang Liêu lang)
9. Hùng Ninh Vương – Thừa Văn Lang
10. Hùng Uy Vương – Hoàng Hải Lang ( dị bản: Hùng Vĩ Vương)
11. Hùng Trịnh Vương – Đức Hưng Lang
12. Hùng Vũ Vương – Hiền Đức Lang
13. Hùng Việt Vương – Tuấn Lang
14. Hùng Định Vương – Chân Lang
15. Hùng Triệu Vương – Cảnh Triệu Lang (dị bản: Cảnh Thiều)
16. Hùng Tạo Vương – Đức Quân Lang (dị bản: Đức tân)
17. Hùng Nghị Vương – Quang Lang
18. Hùng Duệ Vương – Huệ lang (dị bản: Duệ Đức)

18 triều đại Hùng vương do 16 vị Lang sáng lập , 2 triều đại đầu ở qúa khứ sâu thăm thẳm có lẽ là hoàn toàn tưởng tượng mà có nên không có tên vị lang tạo dựng .

Trong 18 đời Hùng vương  thì 2 đời thứ 8 Hùng Chiêu vương – quốc tiên lang và đời thứ 9 Hùng Ninh vương – Thừa Văn lang giúp tỏ rõ nghĩa của từ lang và ý nghĩa quốc hiệu Văn lang trong dòng sử Việt nam .

Hùng Chiêu Vương – Quốc Tiên Lang (dị bản : Lang Liêu lang) ;

Hùng Chiêu vương  nghĩa là Chiêu vương của dòng giống Hùng hoặc cũng có thể hiểu là triều Chiêu vương của Hùng quốc , Chiêu là hướng mặt trời lặn tức phía Tây ; Chiêu →Châu – Chu , phải chăng Chiêu vương cũng là Châu vương chúa đất phía Tây thiên hạ trước là  Tây bá hầu thời nhà Thương Ân ?. Quốc tiên lang là lang hay vương đầu tiên tức vì vương đã kiến lập nên đất nước , dị bản chép là (lang Liêu) – lang đã chỉ ra vì vương đầu tiên này chính là Lang – Liêu của huyền tích ‘bánh dày- bánh chưng’, cặp đôi vật thể hữu hình thể hiện ý tưởng  trừu tượng ‘tròn – vuông’ tức ‘Âm – Dương’ của Dịch học , lang Liêu được thần mách bảo làm ra bánh dày – bánh chưng chỉ là huyền thoại hóa việc ông Cơ xương sáng tạo ra Dịch học viết bằng chữ (trước đó Dịch lí chỉ là hệ thống dấu hiệu) ,  danh  hiệu lang Liêu lang chỉ ra chính người chép ngọc phả cũng không biết ‘lang Liêu’ nghĩa là gì nên mới thêm 1 chữ lang nữa vào .

Đất nước Chiêu vương tạo dựng tên là gì ?.

Triều Hùng Ninh vương – thừa Văn lang cho ta câu trả lời .

Hùng Ninh vương tức triều Ninh vương của Hùng quốc , Ninh là không thay đổi là tịnh – tĩnh Dịch tượng chỉ phía Tây đối phản với phía đông tính động , Ninh vương là con của Châu vương hay Châu Văn vương chính là Châu vũ vương người đã diệt Trụ dựng lên triều đại nhà Châu của Thiên hạ , Ninh là phía Tây nên còn gọi là nhà Tây Châu . Thừa Văn lang nghĩa là kế thừa ngôi báu của Văn lang tức Văn vương hay cũng có thể hiểu là thừa hưởng cơ ngơi nước Văn lang do vua cha truyền lại  .

Xét sự thể thì đã có câu trả lời cho dấu hỏi của tác giả bài viết :

Văn lang cũng là Văn vương , nước Văn lang là nước do  Văn vương hay lang Văn lập nên .

Ở Việt nam hiện nay Linh lang tức Linh lang đại vương là nhânvật lịch sử được thờ kính nhiều nhất  có đến 269 làng trại trong cả nước xây đền miếu thờ nhưng Linh lang đại vương là ai , sử Việt không hề nói đến vị vương nào có tên là Linh lang mà được tôn kính dường ấy chắc chắn là phải có công trạng đặc biệt lớn lao với dân với nước .

Hành trạng của Linh lang đại vương vẫn lẫn trong làn xương mù , căn cứ vào thần tích thần phả có người  suy đoán Linh lang là hoàng tử Hoằng chân con vua Lí thánh tông  tên khác là Hoàng lang , Hồng chân .

Học gỉa Hoàng Xuân Hãn dẫn nguồn thần phả cho rằng Hoàng Lang (Linh Lang) vốn là con của (vua) thủy cung, được lệnh lên giúp vua (Lý thánh Tông ) chống giặc. Sau khi đánh lui quân giặc rồi qua đời. Nhưng …Đối với giả thuyết coi Hoàng Lang hay Hoằng Chân chính là thần Linh Lang, Hoàng Xuân Hãn thận trọng không kết luận chắc chắn…

Sử Việt có biết bao vua chúa anh hùng trong chống giặc ngoại xâm sao 1 hoàng tử Hoằng chân hành trạng mù mờ nhuốm màu thần bí lại được dân chúng tôn thờ ở hàng tối cao như thế ?.

Xét lịch sử dòng giống Hùng thấy : Ninh vương đồng nghĩa với  Ninh lang , Ninh lang trong  tiếng  Việt cũng  là Linh lang , Hùng Ninh Vương – Thừa Văn lang chính  là Ninh vương – Châu vũ vương  vì vua thừa kế sự nghiệp cha là Văn vương  tức Văn lang – lang Văn mà kiến lập nên triều đại Châu của huyền sử Trung hoa , chính nhà Châu là  triều đại đã tạo nên cái mà ngày nay người ta gọi là nền văn minh phương Đông kỳ vĩ ,  công trạng của Ninh vương lớn biết bao , Linh lang đại vương tối linh thần hoàn toàn xứng đáng với sự tôn kính cuả dân  Việt.

Từ ‘lang’ gốc gác ở đâu ra mà được người Việt dùng chỉ thủ lãnh – vua chúa ?.

Số 5 là trung tâm của cả Hà thư lẫn Lạc đồ tức thiên thư và địa đồ , theo thời gian :

Năm →lăm→lăng→lang

Theo Dịch học Trung tâm là nơi nắm giữ và điều khiển 4 phương nên số 5 được biến âm đi thành ‘lang’ chỉ thủ lãnh , tương tự như ‘vàng’ là sắc trung tâm của Ngũ sắc biến đối đi thành ra :

Vàng →voòng→vương  thì ra vương là từ Việt  chứ có Hán hung gì đâu . .

Chính vì lũ vua quan ‘lòng lang dạ sói’ mà người Việt đứt  mạch tâm linh không còn thông mạch sống với qúa khứ Hùng quốc 5-6 ngàn năm trước , qúa khứ dân tộc có chăng  chỉ là ít mảnh vụn  sót lại trong dân gian  , không tìm được chìa khoá thì cố gắng tới đâu khi xâu chuỗi những sự kiện lại cũng vẫn là dòng sử nặng về  đoán định khi so chiếu với những nguồn thông tin khác của khoa học liên quan như khảo cổ , ngôn ngữ , nhân chủng học   và nhất là AND Việt sử đã lộ ra  qúa nhiều điều phải xem xét , phải bàn lại  điển hình như mãi năm 948 tức 10 năm sau khi Ngô Quyền đánh tan  quân Nam Hán trên sông Bạch đằng mà quả chuông đồng cổ nhất Việt nam vẫn khắc là …Giao chỉ huyện , Từ Liêm thôn …đặc biệt lại tính lịch  theo niên lịch Càn hoà của Trung tông Lưu Thịnh nước Nam Hán …thực không hiểu nổi .

Với nghĩa ‘lang’ là thủ lãnh đồng nghĩa với vương thì ý nghĩa quốc hiệuVăn Lang đã sáng tỏ và quan trọng hơn nữa …đã khẳng định nước của lang Văn tức Văn vương chính là trung tâm Thiên hạ thời nhà Châu .

%d bloggers like this: