Đời Hùng vương thứ 5 .


Triều đại : Hùng Vũ Vương  – Hoàng đế mở nước . .

Tổ phụ bộ tộc trung tâm .
Vua khai sáng : Thái Công – Hoàng đế  –  Hiền  Lang
Danh hiệu khác trong Việt sử : Vua Hùng – đế Minh – Vua cha ngọc hoàng thượng đế
Danh hiệu khác trong Hoa sử : Hiên Viên
Niên đại : khoảng – 4.000 → – 2879 Dương lịch  , năm ? → 0 Hùng lịch .

Quốc hiệu : Bộ 15 , Nước họ HÙNG , Hữu HÙNG quốc, Viêm Việt đại hưng bang.

Đối chiếu với Hà thư

Chứng tích còn bảo tồn đến ngày nay :
1-các hiện vật khảo cổ của nền văn hóa Quỳnh văn –sông Cả , Nghệ an là vật chứng về sự tồn tại của người dòng CƠ ,bộ lạc của Hiền vương hay Hiên viên
2- nền văn khảo cổ hóa Đa bút là di tích của bộ lạc dòng Viêm đế .
3- miền trung lưu Cửu long chính là nơi cư trú của con dân dòng Xi vưu.
Hùng Vũ Vương là quốc tổ của dân Việt Nam và Trung Hoa; Hùng là dòng giống; Vũ và vương là từ kép để dic̣h sang Hoa văn từ Vua của Việt ngữ; Hùng Vũ Vương đồng nghĩa với ‘Vua Hùng”.
Trong vương hiệu ‘Hiền Đức Lang’ thì : Đức là biến âm của ‘Đế’ → Hiền Đế = Hiền Vương và Lang =Vương→Hiền lang =Hiền vương, ‘ Hiền đức lang’ ( thừa 1 chữ ) là kiểu sai thường gặp trong tiếng Việt như : sông Hương giang , núi Thái sơn..v.v., ‘ Hiền vương’ sử Trung Hoa ký âm sai thành ‘Hiên Viên’ .
Cổ sử Trung Hoa chép: “Hoàng đế tên tộc là Ngu, hiệu là Hiên Viên; bộ tộc sinh tụ tại vùng sông Cơ, sau lấy chữ Cơ làm họ, là vua nước Hữu Hùng …”
Đoạn sử tuy ngắn nhưng vô cùng quí giá đối với người nghiên cứu lịch sử Việt Nam và Trung Hoa.
a. Hoàng đế tên tộc là Ngu, đây là ký âm sai của chữ ‘Ngũ’, ngũ là số 5, trung cung của cả Hà và Lạc ; âm ‘vua’= ‘woo’ ký âm hoa ngữ phân hoá thành ‘ngu’ hay ‘ngũ’ và ‘Vũ’ , Và trung cung của ngũ sắc là màu vàng nên mới có từ ‘Hoàng Đế’ nghĩa là đế của vùng ‘giữa’ tức vùng ‘Giao-chỉ’ – vùng đất tổ của dân Việt theo chính sử.
b. Hiệu là ‘Hiên Viên’; ở trên ta đã chỉ ra là ký âm sai của ‘Hiền Vương’ .
Theo tryền thuyết thì Đế Minh là cháu 3 đời của Thần Nông – Thái Viêm ̣( không lầm lẫn với Viêm đế vị vua cùng thời với Hoàng đế hay đế Hoàng ), như ở trên đã dẫn Thần Nông Thái Viêm là Hùng Hiển Vương → Hùng Nghị Vương – Hùng Diệp Vương – đến Hiền Vương – đế Minh đúng là cháu 3 đời.
c. Hoàng Đế là tổ họ Cơ (lấy từ tên sông Cơ):Cơ là ký âm Hoa ngữ của từ Cả nghĩa là lớn nhất hay đứng đầu, Đoạn này cho ta những thông tin: Chữ ‘Cơ” không phải là họ Cơ mà là ‘Cô’. Sử ký của Tư Mã Thiên cho biết Cô là từ mà vua chúa xưng mình trước quần thần trong các buỗi thiết triều; cô là tiếng Việt còn lưu dấu trong thầy-cô, chữ cô này đồng nghĩa với từ ‘mẹ’, chỉ người sinh ra mình. Ở đây chữ ‘cô’ đồng nghĩa với chữ ‘cả’ là số 1 là đứng đầu chỉ thủ lãnh. Cổ sử Trung Hoa ghi Hiên Viên là tổ họ Cơ, ta hiểu đó là vị cô đầu tiên trong lịch sử dân tộc hay rõ ràng hơn là hoàng đế khai quốc.
Đặc biệt cụm từ có tính chìa khóa ‘HÙNG QUỐC’ không phải mới xuất hiện ở thời Hoàng đế , …cả Hoàng đế và Viêm đế đều là con của Thiếu ̣Điển , Thiếu điển còn tên khác là HÙNG QUỐC QUÂN nghĩa là thủ lãnh hay người đứng đầu Hùng quốc , đây là giấy trắng mực đen chứ không phải suy đoán gì cả …, ở Trung hoa ngày nay vẫn lưu truyền …người mang họ Hùng là dòng dõi trực hệ của Hoàng đế Xưa … Tóm lại mối liên hệ giữa Hoàng đế hay đế Hoàng quốc tổ Trung Hoa và họ HÙNG là điều không thể phủ nhận .

Về địa bàn sinh tụ của dân tộc thời lập quốc là lưu vực sông Cơ, Cơ = Cả (tư liệu Lịch sử Việt ghi là: vùng đất lập quốc của các vua Hùng là sông “Côi”), chính là sông Cả ở Nghệ An Việt nam hiện nay , nơi đây có một địa điểm rất linh thiêng hàng năm dân chúng vẫn tiến hành lễ tế đó là ‘Hang Bua’, rất có thể đấy chính là nơi an táng của vị Hoàng đế Khai quốc Trung hoả  . Thực là sức sống của dân tộc vô cùng mãnh liệt, nội việc chôn vua là hang núi cũng đủ xác định thời gian rất xa xưa có thể cách nay khoảng 5.000 – 6.000 năm, tức vào thời con người ăn hang ở lỗ (ăn lỗ ở hang), xã hội còn là thị tộc hay liên minh thị tộc, mỗi hang là một cộng đồng nhỏ, là cơ sở của xã hội, sau hang → hương nghĩa là làng.
Di tích Hang Bua rất có thể là nơi cực thiêng đánh dấu thời khai quốc của người Việt Nam và Trung Hoa và vị vua khai quốc là Hùng Vũ Vương hay Hiên Viên trong truyền thuyết.
d. Hiên Viên là vua quốc gia Họ Hùng : Đây là phần rất quan trọng để xác định nguồn gốc dân tộc Việt; Hiên Viên hay Hiền Vương là Hoàng đế lập nên quốc gia Họ Hùng, quốc hiệu lưỡng tính này có Ý chỉ thời lập quốc hay thời tiến từ liên minh thị tộc lên quốc gia, giai đoạn đặc biệt khởi đ̣ầu với từ hữu và kết thúc bằng từ quốc .
Thời Hùng Vũ không biết kéo dài bao lâu , trong sử học đó là thời chuyển tiếp từ liên minh thị tộc sang tổ chức quốc gia chính vì thế mới có tên HỮU HÙNG QUỐC , khởi đầu với chữ ‘ hữu-họ’ và kết thúc ở chữ ‘quốc-nước’ và quốc tổ cũng khởi đầu với danh hiệu: THÁI CÔNG là tổ phụ cuối cùng sau biến thành HÙNG VŨ tức vua HÙNG Hoa sử gọi là HOÀNG ĐẾ .
Sử Trung Hoa có quy luật đặt vương hiệu đàng hoàng như Chu Văn Vương hiểu là chúa văn của nước Chu hay nhà Chu; Tần Nhị Thế là chúa đời thứ hai của nước Tần ; Hán Vũ Đế là chúa khai sáng triều Hán hay nước Hán. Riêng với chữ ‘Hùng’ lại rất đặc biệt, Hùng là dòng giống chứ không phải chỉ là tên nước, tộc danh này bao trùm và ở trên quốc hay gia, thí dụ: dân họ Hùng có thể có nhiều quốc danh như :nước Lạc, nước Thao,nước Thục, nước Đại Cồ Việt ; mỗi một nước như thế lại có nhiều nhà như Đinh, Lê, Lý, Trần; … nhưng tất cả vẫn xuyên suốt 1 Họ Hùng hay dòng tộc Hùng, chính vì thế ta mới có Hùng Vương thứ nhất, Hùng Vương thứ 2, V. v… . Những dòng lịch sử này đã minh thị đích xác về Họ Hùng mà người Việt vẫn tôn thờ trong tâm thức mấy ngàn năm qua, cũng như dân tộc Trung Hoa tôn thờ Hoàng Đế Hiên Viên, hai dân tộc tôn thờ 2 danh hiệu của cùng 1 vì vua, và cùng nhận là quốc tổ của mình, khi nhận ra: Hiền Đức hay Hiền Vương và Hiên Viên chỉ là 1 nhân vật thì đã đến lúc viết lại sử Việt Nam và Trung Hoa đó là việc bắt buộc không thể chần chừ lâu hơn được nữa, vì để càng lâu thì tội bất kính – chửi cha mắng mẹ càng chồng chất.
Dựa trên truyền thuyết lịch sử Việt Nam và Trung Hoa ta dựng lại toàn cảnh của thời kỳ lập quốc:
5 bộ tộc đã thống nhất hoà huyết tạo nên dòng giống HÙNG:
1 / bộ tộc CẢ ở lưu vực sông Cả thủ lãnh là Hiên viên , sau gọi là dòng tộc Cơ

2 / bộ  tộc Cửu lê ở lưu vực sông mêkong thuộc trung – hạ nước Lào , thủ lãnh là Xuy vưu tộc Khương .
3 / bộ  tộc Mun hay Miêu ở hạ lưu sông Đà tên xưa là Hắc thủy hay Đơn thủy (đơn =đen) thủ lãnh là Hoan đâu, truyền thuyết Việt gọi là con gái bà Vũ tiên .
4 / bộ tộc Long hay thần long còn gọi là Động đình , cầm đầu là Long nữ con gái Động đình quân sau gọi là tộc My .
5 / bộ tộc Viêm ở vùng Hoà bình –Ninh bình thủ lãnh là Viêm đế . Bộ  Viêm là sự hòa huyết đầu tiên của 2 đại tộc KHƯƠNG và MY , cổ sử Trung hoa chép : mẹ của Viêm đế là bà NỮ ĐANG cảm Thần long mà sinh ra vương , Nữ chỉ đàn bà ; Đang là biến âm của Đanh – Đinh chỉ phương tây ,Thần long là tên khác của đại tộc MY.
Cả cổ sử Hoa và Việt đều lẫn lộn Viêm đế với tổ phụ Thái viêm đưa đến nhiều đoạn sử không thể hiểu nổi.
Sự tồn tại các tộc người vào thời điểm dựng nước được chứng thực bởi các hiện vật khảo cổ của các nền văn hóa Quỳnh văn ở sông Cả Nghệ an, Đa bút thuộc Ninh bình – Hoà bình Việt nam và cánh đồng chum ở trung Lào.
Tóm lược trang sử dựng nước cùa vua HÙNG :
Theo Cổ sử Trung hoa thì Hoàng đế và Viêm đế là hậu duệ của Thái Viêm Thần nông , đây chỉ là sự thể hiện sử tính của những con số thuộc Viêm phương theo Hà thư : 7=2+5 , số 7 chỉ Thái Viêm , số 2 là Viêm đế và số 5 là Hoàng đế hay Hùng Vũ – đế Minh
HIỀN VƯƠNG thủ lãnh của bộ tộc CẢ nghĩa là đứng đầu (cổ sử Trung hoa chép thành HIÊN VIÊN của tộc CƠ)  sinh trú ở lưu vực sông Cả đánh bại XUY VƯU vua của bộ tộc CỬU LÊ dòng Khương tây ; đoạn sử này xuất phát từ cặp số 4-9 chỉ phương tây của Hà thư, xuy là âm của số 4 còn cửu là số 9. Hiền vương thống nhất 2 bộ  tộc sau đó đánh bại Viêm đế ở vùng Ninh Bình- Hoà bình Việt nam và đã đúc 3 bộ tộc thành một dân tộc, dân tộc HÙNG, lập nước họ HÙNG và lên ngôi HÙNG VŨ tức VUA HÙNG , lãnh thổ của nước họ HÙNG là đất GIỮA chuyển âm Hán ngữ thành YUÊ còn được dịch là GIAO CHỈ ; từ ‘chỉ’ là ký âm hán tự của chỗ, nơi chốn . Đất ‘giữa’ nay là đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh và vùng núi rừng phía tây, người Hoa ký âm chữ giữa thành YUÊ ; Việt nho đọc thành VIỆT ( chưa hiểu tại sao ?).
Vua Hùng dạo chơi phương nam gặp và kết hôn với con gái bà Vũ tiên hay tiên đế sinh ra LỘC TỤC, Lộc là biến âm của lục là số 6 và công thức đã ấn định trong hà thư để sinh ra Lục tộc – Lạc tộc : Hiên viên hay Hiền vương tên tộc là NGU chính xác là NGŨ số 5 ở trung tâm của Hà thư, lấy con bà Vũ tiên là số 1, sinh ra Lộc tục được chỉ bởi số 6 ; ta có: 5+1=6, sau vua HÙNG truyền ngôi cho con cả lập nên triều đế NGHI ở phương Bắc và Lộc tục được phong là vương phương Nam lấy hiệu là KINH DƯƠNG VƯƠNG, Nghi cũng có thể là biến âm của nhì – nhị chỉ vua đời thứ 2 ,Kinh hay canh là biến âm của cóng nghĩa là lạnh cũng là một tên khác của quẻ Khảm chỉ NƯỚC trong cặp đối Lửa-Nước hay phương Bắc và phương nam,nóng và lạnh còn từ dương chỉ là biến âm của Giêng tức số 1 trấn phương nam trong Hà thư.Giòng con cháu đế NGHI gọi là người LA tượng trưng bởi qủe LY là lửa , qủe của Viêm phương trong dịch học .
Cổ sử Trung hoa không ‘thích’ con đường hôn nhân để kết hợp mà chọn đường chiến tranh để thống nhất , phải có chiến tranh và chiến thắng mới oai hùng …nên viết HOÀNG ĐẾ tức HÙNG VŨ đánh bại HOAN ĐÂU con vua XUYÊN HÚC ở ĐAN THỦY, đan là biến âm của đen, Đan thủy hay HẮC THỦY cũng là con ‘sông đen’ mà thôi, HẮC THỦY là tên của sông ĐÀ xưa. HOAN ĐÂU là tổ của người MIÊU hay Hữu Miêu tức họ Miêu, chữ Miêu là ký âm sai của chữ MUN , người Mun ( màu đen ) nghĩa là người phương nam .Một học gỉa người Nhật đã phát hiện Tất cả người tộc Miêu đều nhận mình là người MUN- HMONG .
Thực tế thì chẳng có hôn nhân cũng chẳng có đánh nhau đấy chỉ là một lối ám chỉ ,diễn tả việc phát triển dân tộc HÙNG về phương nam ,ở đấy cộng sinh và hoà huyết với1 tộc người mới là người MUN kết qủa là tạo thành giòng tộc HÙNG phương nam gọi là người KINH _ CANH biến âm của CÓNG là tên khác của quẻ Khảm chỉ phương nước ngược với phương Ly-lửa.
LA và KINH là anh em cùng cha khác mẹ , cả 2 là con HÙNG VŨ tức vua HÙNG và đất giữa hay YUÊ cũng có Yuê-bắc và Yuê- nam, ngày nay kim chỉ nam còn được gọi là LA-CANH tức cây kim 2 đầu, 1 đầu Bắc và1 đầu Nam nhưng chỉ là 1 cây kim mà thôi . Người KINH mọi người đều biết là người VIỆT hiện nay còn người LA ?
Câu ca dao sau sẽ dẫn dắt chúng ta ̣đến 1 bất ngờ to lớn:
Ai ơi chớ lấy KẺ LA.
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.
Gạt bỏ ý tứ trong lối chơi chữ ‘dưa khú – cà thâm’ đi ta có được thông tin quan trọng và qúy giá đó là KẺ LA, kẻ nghĩa là người , kẻ La là người La tên người Việt gọi người CHĂM hay CHÀM; thì ra La và Kinh là chỉ người Việt và người Chàm hiện nay…, người Chàm là dòng đế NGHI con cả của vua HÙNG, thật là một bất ngờ to lớn khi biết La là quẻ Ly ;Kinh là quẻ Cóng hay khảm tức quẻ lửa và quẻ nước biểu thị sự phân cực của một thể thống nhất theo luật lưỡng nghi của dịch học.
Người Chàm chỉ là một phần của người La , người La hiện nay có mặt ở nhiều nơi trong vùng đông nam á và trung quốc, Lào là biến âm của LA tên Hán văn là LÃO QUA , Trung quốc có người DI LÃO hay CAĐAI và người LÊ, các từ Ly-la- lê-lão-lô..v.v chỉ là những biến âm của 1 từ gốc là LỬA, chữ Di là tàn tích của chữ NHÌ hay NHỊ .
DI-LÃO có 1 từ kép Đối xứng là KINH-LẠC, qủe Cóng đối với qủe Ly và Kinh đối với Lão; Lạc biến âm của lục số 6 đối lại với Di biến âm của nhị số 2, 6 và 2 là 2 số đối phân cực Bắc –Nam của Hà thư.
Người KINH- LẠC; ngoài người Kinh ở đất Việt hiện nay còn có dòng Bách-lộc và người Hẹ hay Hacka và người mang họ MẠC ở đất Trung quốc vì Chữ LẠC còn đọc là ḤẠC và MẠC-MẠCH, có điều lạ lùng là không hiểu sao người Tàu lại gọi người Cao ly là Mạch, có 1 sự lẫn lộn nào đó của lịch sử hay không ?.
Cổ sử cũng cho biết khởi thủy đất trung hoa chỉ có châu ĐÀO-ĐƯỜNG hay ĐÀO- DƯƠNG, thông qua các dịch tượng ta hiểu Đào đường hay dương cũng chỉ có nghĩa là bắc – nam hay lửa và nước mà thôi, cổ sử Việt có nói đ̣ến đất Việt thường đấy chính là nói về đất Đường trên, Đường là phát âm hán việt chữ thoòng hay thường mà thôi . Con dân vua HÙNG có người LA người KINH, đất có đất Đào đất Đường hay Việt thường, căn cứ vào thư tịch cổ ta còn thấy vua cũng có 2 dòng, đế KHAI-MINH và đế MINH-KHIẾT, ông KHIẾT là tổ của người Trung hoa vùng Trường giang ta có thể suy ra đế Minh Khiết hay MINH + KHIẾT là vua gốc dòng KINH- LẠC do sự hòa huyết của đế MINH và dòng VŨ TIÊN phương nam gọi tên khác là ông KHIẾT như truyền thuyết đã nói ở trên. Khi vua HÙNG truyền ngôi cho đế NGHI ở phương bắc ( dịch lý ngược với nay) thì quốc hiệu là nước ‘ĐÀO’ dịch sang Hoa ngữ là HỒNG BANG ký âm sai thành HỒNG BÀNG, đấy là quốc hiệu đã được mọi người VIÊT NAM mặc nhiên công nhận.
Những dòng tóm lược về thời khai quốc trên đã cho thấy có sự trùng hợp hầu như hoàn toàn giữa 2 dòng sử VIỆT và HOA , sự việc này thực kỳ bí buộc ta phải đi sâu thêm để khám phá.
Cổ sử cũng nói đến 3 thành tựu khoa học và kỹ thuật của thời này:
1. Khi đánh nhau với Xi Vưu, vua phía Tây, Hiên Viên đã sử dụng kim chỉ nam để dẫn đường, đây là thành tựu tuyệt vời của khoa học kỹ thuật Việt, sau này người Phương tây đã học được và áp dụng để xác định phương hướng mãi cho đến ngày nay; không có kim chỉ nam hay la bàn thì không thể đi xa, không có ngành hàng hải tiến bộ vượt đại dương, bộ mặt của thế giới chắc chắn khác xa ngày nay và chắc chắn lịch sử thế giới không diễn ra như hiện có.
Kim chỉ nam là tên Việt trong đó từ ‘chỉ’ là động từ nên cả đoạn rất rõ nghĩa : là cây kim có đầu luôn chỉ hướng nam….; còn trong Hoa ngữ cụm từ ‘chỉ nam châm’ tương tự còn có ‘chỉ nam xa’ không tài nào hiểu nổi nghĩa….
2. Hoàng Đế Hiên Viên được tôn là tổ phụ của văn tự Trung Hoa, ý không phải nói hoàng đế chế ra loại chữ Trung Hoa đang dùng ngày nay, mà như đã nói Văn là Dịch và Dịch tức Văn. Nếu tổ thứ nhất của văn tự là Phục Hy với Dịch Lý nút số. Thì Hiền Vương – tổ thứ hai với Dịch Lý vạch – quẻ. Đạo Giáo hay Đạo Lão được xây dựng trên nền tảng học thuyết Hoàng – Lão (Hoàng Đế + Lão Tử). Tinh hoa của triết thuyết Lão Tử nằm trong Đạo Đức Kinh thì người ta đã rõ, còn với Hoàng Đế thì đóng góp gì ? Chắc chắn là Bát Quái ; Tiên Thiên Bát Quái thì đa phần học giả Trung Hoa đều đồng thuận với ý kiến này; chỉ còn tranh cãi về Hậu Thiên Bát Quái mà thôi ; Có 2 trường phái: thứ nhất cho rằng Hậu Thiên Bát Quái cũng do Hoàng Đế sáng chế; phái thứ hai cho là Hậu Thiên Bát Quái do Văn Vương tổ của nhà Chu sáng tác. Dù cho do ai sáng tác đi nữa thì Bát quái cũng vẫn là nền tảng của khoa học truyền thống Việt Nam – Trung Hoa, ý nghĩa của nó ta đã xét ở phần Dịch Lý.
3. Thành tựu kế tiếp là y học cổ truyền của Việt Nam và Trung Hoa:
Tương truyền sách “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” có từ thời Hoàng Đế, trong đó đã có đầy đủ những nguyên lý của nền y học cổ, nền y học này đã vận dụng các nguyên lý Dịch học vào ngành cơ thể học và y học để trị bệnh cho con người, đấy là cuốn sách nền tảng của Đông y còn nguyên gía trị cho đến bây giờ và càng ngày càng có địa vị vững vàng trong thế giới hiện đại, đối với khoa học nó còn đầy những điều không thể hiểu nỗi … nhưng rõ ràng có tác dụng thực sự, dù tự nhận là tiên tiến nhưng người ta vẫn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, nào kinh – lạc, nào huyệt đạo rồi châm cứu, châm tê V.v…, chữa bệnh ở nội tạng lại châm ở bàn chân hay vành tai … thực không hiểu nỗi.
Trung tâm của tổ quốc Họ Hùng là đất giao (giữa) lấy chuẩn là sông Cả, căn cứ vào những thông tin của địa lý –lịch sử Việt và sự phân bố các sắc dân có thể xác định : đất Giao Bắc tức đắt Đào – Hồng là vùng đồng bằng Thanh – Nghệ – Tĩnh và vùng thượng nguồn các con sông : Cả, Chu, Mã và núi Đọ – Đại – Thái ngày nay.
Câu ca dao mà mọi người Việt đều thuộc lòng:

“Công cha như núi Thái Sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”

Người Việt dùng hai câu này sánh công lao cha mẹ như núi, sông nhưng nó còn chứa các thông tin khác. Nói đến cha mẹ không phải chỉ là cha mẹ, người Việt còn có tục đồng hóa vua với cha mẹ như “Bố Cái Đại Vương” chẳng hạn, và dân còn được gọi là ‘con dân’; công cha nghĩa mẹ còn dùng để ca tụng công đức của quốc tổ, cha mẹ chung đã sinh ra cả một dân tộc; dân tộc họ Hùng , địa danh ‘núi Thái Sơn’ (1 trong 2 từ ‘núi’ hay ‘Sơn’ là thừa) nếu liên kết với từ Thái trong Dịch Lý ta thấy : Thái còn dùng thay chữ Đại , Thái sơn cũng là Đại Sơn, người Việt thấy ngay là Hán văn chuyển ngữ từ ‘núi Đọ’; và câu ‘nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra’ cung cấp thông tin về con sông, sông Mẹ, sông Mã, Mã ký âm là ‘Mẹ’, cũng như chữ Chu trong sông Chu là Cha, tổng kết :. 3 con sông Cả, Cha, Mẹ (Chu và Mã) cộng với Thái Sơn đủ để ta xác định đấy là vùng đất khởi nguyên của tổ quốc Việt: đấy chính là đất Giao, mà tên gọi còn theo lịch sử in dấu tới tận ngày nay. Đất Giao hay Giữa là vùng đất Trung tâm, ngày nay gọi là Trung nguyên – trung thổ chứ không phải theo lối giải nghĩa vớ vẫn … Giao Chỉ là dân có 2 ngón chân … bẹt ra vì leo núi đá.
Lãnh thổ của đất nước chia làm 2 phần Bắc – Nam, dân Họ Hùng cũng chia làm 2 cộng đồng, dân Lửa và dân Nước. Người Lửa còn có các tên khác là: người Lão hay Di -lão, còn gọi là Liêu sống ở An Ấp ̣ ( không lẫn lộn với người Liêu ở bắc trung quốc hiện nay ) . Dân Nước còn gọi là dân Kinh hay Kênh-lạch, Trung Hoa gọi là người Bách Lộc,Hạc, Mạc.v.v. lãnh thổ là Lạc Ấp và Lâm ấp.
Đế Nghi nối ngôi Hùng Vũ hay Hoàng Đế Hiên Viên mở ra triều đại mới.
Tóm lược thời lập quốc: 2 dòng tộc Viêm và Cửu Lê, ngày nay khoa học gọi là Môn-Khmer và Indonesien đúc kết thành người Lửa, Liêu, Lão, La, Lê tụ cư ở vùng đất là Giao-Bắc , nay là đồng bằng Thanh – Nghệ – Tĩnh và núi rừng phía Tây. Sau đó dân Họ Hùng thiên cư về cõi Nam xưa , cộng cư và cộng huyết với người Miêu (sử Việt gọi là dòng dõi bà Vũ Tiên), tức tổ tiên người Miêu sinh ra Lạc tộc, sử Trung Hoa gọi là người Bách Lộc, Hạc, Mạc .
Theo thông tin do Nguyễn Hồng Sinh đưa ra trong “Kinh Dịch Huyền diệu và Ứng nghiệm” thì Hùng Vũ hay Vua Hùng còn có danh hiệu: Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng Đế và vợ là Đệ Nhất Tiên Thiên Thánh mẫu, dựa trên ngữ văn chắc chắn đây là truyền tích của Đạo Giáo, đặc biệt chi tiết “Thánh Mẫu” cho ta nhận định: Đạo Giáo và Đạo Mẫu ở Việt Nam có sự liên quan, Đạo Mẫu là đạo thờ mẹ, một tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam. Tồn tại từ thời xa xưa đây là biểu hiện của thời mẫu hệ nên gần nhất thì đạo này cũng có từ trước đời nhà Chu, vì nền văn minh Trung Hoa thì cuối đời Ân Thương là thời kỳ chuyển tiếp từ mẫu hệ sang phụ hệ để rồi phụ hệ được khẳng định ở thời nhà Chu. Thông tin quan trọng nữa mà cuốn sách trên nêu lên là quốc hiệu : “Viêm Việt Đại Hưng Bang” phải chăng đấy là cách gọi khác của Hồng bang ( tương quan VIÊM-HỒNG ) ? . Sau quốc đô dời về miền nam (bắc hiên nay) đổi thành “Bách Việt đại liên bang”; trên hành trình tìm về cội nguồn, bất cứ manh mối nào đối với chúng ta cũng quan trọng, đều là thiêng liêng. Nên chi tiết nào cũng rất đáng quan tâm và đào sâu nghiên cứu .
Do lẫn lộn không phân biệt giữa Thái viêm Thần nông tổ 3 đời của đế Minh và Viêm đế một thủ lãnh bộ tộc cùng thời với đế Minh hay Hiên viên- Hiền vương đã khiến cổ sử Việt mắc sai lầm cơ bản , do lẫn lộn Viêm đế với Thái viêm thủy tổ của dòng Việt …mà Hoàng đế- Hiên Viên đánh bại và chiếm đất của Viêm đế lập nên nước Trung hoa …nên các sử gia người Việt đã coi Hiên Viên là kẻ xâm lăng và hủy diệt nước của tiền nhân người Việt ….thực là lầm lẫn to lớn tai hại vô cùng hậu qủa còn kéo tới tận hôm nay .
Do những sai lầm của giới sử học tới tận hôm nay người Việt vẫn coi Hoàng đế Hiên viên là tổ của Hán tộc ….và Hán là Trung hoa …
Thực sự ‘Hiên Viên’ chỉ là ký âm chữ hán của ‘Hiền vương’ tức Hùng vũ là vì thủ lãnh đã đúc ba bộ tộc thành ra họ HÙNG thủy tổ của người VIỆT ngày nay.

Advertisements

2 comments

  1. Câu ca dao:
    “Công cha như núi Thái Sơn,
    nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
    Có thể được sáng tác gân chứ không wá xưa đâu, thưa bác.
    Vì từ “mẹ” vốn đã được chứng minh là từ mượn từ tiếng Fáp “mère”. Mà nói thêm cái nhầm lẫn dẫn đến dùng thừa từ núi Thái sơn, sông hậu jang, sông tiền jang… đều do xuất fát từ tầng lớp người biết chữ quốc ngữ, không rành chữ nho mà ra. Luận chứng đó thì câu ca dao đó không fải là ca dao cổ đâu ạ.

  2. Cho nên nói về câu ca dao đó, cháu tin chắc tác jả chỉ muốn nói đến công lao cha mẹ là chính – không mang nét định tính dân tộc. Và tác jả chắc cũng chỉ mượn hình tượng Thái sơn thôi – không hàm ý là Thái sơn ở đâu cả.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s