Đời Hùng vương thứ 6 .


Triều đại : Hùng Hy vương  – Đường Nghiêu .

Vua khai sáng : – Viêm Lang hay Viên lang .

Danh hiệu khác trong Việt sử : Hùng Anh vương – Đế Nghi .

Danh hiệu khác trong Hoa sử : đế Nghiêu , Đường Nghiêu , ông Giao Thường

Quốc hiệu : Hồng bang .

Niên đại : – 2879 → – ? Dương lịch , 0→ ? Hùng lịch .

* Huyền sử Việt nam :

Hùng Vũ – Đế Minh truyền ngôi vua cho con trưởng là Đế Nghi và phong cho Lộc Tục là “vương” phương Nam… đó là những thông tin của truyền thuyết lịch sử Việt Nam:
Âm ‘Hy’ trong Hùng Hy xuất phát từ âm gốc là số hai – 2 trấn phương Bắc của Hà thư.
Hai→ hải-hà-hạ-hè-hồ-hời-hoa-huy
Tương tự, âm ‘Lục’ là đất và số 6, cũng có cả 1 hệ biến âm:
Lục→ lộc-lạc-lịch-nác-nước
Triều đại Hùng Hy – Viêm Lang có 2 vương được truyền thuyết lịch sử Việt Nam nói tới:
Đế Nghi – nối ngôi Đế Minh
Đế Lai – con của Đế Nghi, là cha của bà Âu Cơ.
Ta có âm Lửa→ -La-ly-lý-lê-lô-lai-lão
Trong Hoa ngữ số 2 còn gọi là ƠN hay ÔN và biến âm thành an,ân,yên,anh … tiếng Việt là ấm nên triều Hùng Hy còn được gọi là Hùng Anh vua khai sáng là Viêm lang, các từ : hy-hai, anh-ấm, viêm-nhiệt ,ly –lai đều liên quan tới chữ LỬA chỉ vùng nhiệt đới-xích đạo tức phương bắc của Hà thư, đất ở đấy tên là đất Đào và khi trung tâm quốc gia ở đất Đào thì quốc hiệu nước ta là Viêm bang hay Hồng bang ( đào-hồng-xích cùng nghĩa là màu đỏ ), tất cả các từ dùng cho triều Hùng Hy đều là các đặc tính của quẻ LY như : lửa,sáng , nóng bức, màu đỏ.v.v.; người Hời ngày nay là con cháu chính dòng Hùng Hy.; quốc gia lập trên đất ấy thời xuân thu- chiến quốc là nước Yên, cổ sử trung hoa thường gọi con cháu Hùng Hy là người Di-lão, từ lão ta đã biết còn Di chỉ là biến âm của chữ nhị-nhì hay số 2 mà thôi, loài thú làm biểu tượng dân tộc là con HỔ, hổ cũng chỉ là biến âm của chữ hoả nghĩa là lửa đúng theo điểu thú văn mà ta đ̣ã từng nói đến.
Việt Nam có truyền thuyết Thần Trống đồng giúp Hùng Vương đánh giặc và sau đó để tưởng nhớ vua Hùng đã phong là “Đồng Cổ Sơn Thần” và đặt đền thờ ở núi Khả Lao.
Khả Lao thực ra là ‘Cả La’ nghĩa là vua hay chúa của tộc La như vậy núi Khả lão chính là nơi thờ Hùng Hy vương – Viêm lang hay Viên lang cũng chính là vua Công lưu của nhà CHU , sự liên quan huyết thống người La và người Chăm sau này được nhận ra nhờ ‘công thức’ Chứa trong đạo vuông –tròn :‘Viên lang’ đồng nghĩa với ‘Hoàn vương’ .Nước Hoàn vương còn gọi là Lâm ấp sau gọi là Chiêm Thành chính là nước Yên của Thiệu công ;chính xác là Thiêu (đốt) công Thích , thủ đô rất có thể là Sa huỳnh địa danh khảo cổ nổi tiếng ở miền trung Việt nam .Từ ‘Thiêu’ ở đây chỉ phương nóng hay Viêm phương tương tự như từ ‘Chu’ trong Chu công là chỉ phương tây .

                      

 Đế Lai được biết đến là cha của Âu Cơ, trong truyền thuyết Âu Cơ – Sùng Lãm. Về niên đại thời Hùng Hy Vương – Viêm Lang có thể ước đoán là thời kỳ đầu của đợt biển tiến Holocen Trung vào khoảng sau 3.000 năm và trước 2.000 năm trước Công nguyên.

*Huyền sử Trung hoa :

Truyền thuyết Việt nói Kinh dương vương không lên ngôi đế vì nhường cho anh….nhưng cổ sử Trung hoa lại nói khác : Sở dĩ đế Nghiêu có hiệu là Đường Nghiêu vì trước khi lên ngôi vua có tước hiệu là Đường hầu hay vương đất Việt- thường, ta thấy Đường hầu hay Đường vương chỉ là cách gọi khác của Kinh dương vương mà thôi… tên tộc của đế Nghi là Giao thường , Giao thường nghĩa là đất Giao chỉ phía nam ( khác với đất phía nam Giao chỉ còn gọi là đất Nam giao )
Đế Nghi có công rất lớn khi cùng Thuấn đế mở mang bờ cõi về phương nam…chỉ một câu ngắn gọn … “mệnh hy Thúc trạch Nam giao…” so ra bằng hàng mấy trăm năm mồ hôi đổ và có thể là cả máu để tạo cho con cháu mảnh đất Nam giao …( phải viết là nam Giao chỉ mới trọn nghĩa cho câu) tức đất lĩnh nam ngày nay.,ở đây là phương Nam xưa theo dịch lý ngược với hiện nay.

Xét theo huyền sử Trung hoa thì triều Hùng Hy vương – Viêm lang của Đế Nghi – ông Giao thường có trung tâm lãnh thổ ở đất Ngũ lĩnh cũng là đất Đường – Việt Thường nay là Bắc bộ không phải là Hồng lĩnh – đất Đào của nhánh kẻ La .

Đế Nghi – Giao Thường – Lạc vương nay được thờ ở đền Hùng Phú thọ , Người Việt gọi là đền quốc tổ …rất có thể có sự lầm lẫn ; đế Nghi chỉ là vua thứ 2 nước họ Hùng là tổ của dòng Lạc phía Nam xưa còn quốc tổ cả dòng giống là Đế Minh Hùng Vũ vương cũng là đế Hoàng thờ ở hang Bua ở Nghệ An …, đây là điều rất quan trọng người Việt cần nghiêm túc xem xét , xưa người họ Hùng gọi nước là Bộ , vua là ‘Bộ chúa’ , theo phép phiên thiết : bộ chúa thiết Bua vì thế dân gian  gọi là hang Bua …

Sở dĩ Có cái nhìn khác nhau về triều Hùng Hy vương – đế Nghiêu của huyền sử Việt và huyền sử Trung hoa là do 2 dòng sử dùng 2 mốc chuẩn khác nhau .

Huyền sử Việt nhìn sự việc bao trùm cả vùng Giao chỉ và Nam giao , như thế về phương diện địa lý so với Nam giao thì Giao chỉ ở phía Bắc xưa tức hướng nóng – Xích đạo nên triều Hùng Hy vương –đế Nghiêu với trung tâm ở Bắc Việt được gán những thông tin biểu thị cho lửa – nóng .

Ngược lại Huyền sử Trung hoa lấy đất Giao chỉ gồm 2 phần Giao Bắc đất Đào và Giao Nam đất Việt Thường làm chuẩn  nên triều Hùng Hy vương mang những đặc tính của vùng phía Nam xưa theo Dịch học như đế Nghiêu trước khi lên ngôi mang tước Đường hầu , tên ông là Giao Thường .v.v.

Người La như ta đã biết chính là người Chàm hay Chăm còn gọi là Hời hiện vẫn còn giữ cả 2 tập tục cổ xưa của con cháu Hùng vương là nhuộm răng ̣đen và ăn trầu, ăn trầu là đặc điểm rất quan trọng để nhân diện dòng giống khi xét theo ý nghĩa của tập tục này mà ta đã nói đến ở phần trước khi bàn về sự tích trầu cau ; người La qủe Ly và Hồng bang hay Hồng bàng chính là những dấu tích của cộng đồng người họ Hùng thuở ban sơ đã ghi trong truyền thuyết .
Lưu ý : Lịch sử nước ta có 2 thời kỳ khác biệt hẳn nhưng lại trộn lẫn nhiều chi tiết đôi khi người đọc không hiểu nổi :
– Thời dựng nước truyền thuyết lấy Hà thư làm chuẩn trong đó số 2 trấn phương Bắc (xích đạo ), số 6 trấn phương Nam . Do tính chất các dịch tượng nên :
*số 2 gắn liền với các thông tin :
-qủe Ly, đất Đào, Viêm bang hay Hồng bang, triều Hùng Hy
*số 6 gắn liền với :
-Quẻ khảm hay Cóng, đấ́t Việt thường hay Đường, đất Dương ,Nam bang, Kinh dương vương.

Qua thời Vương quốc cổ sử dùng Lạc đồ làm chuẩn số 2 chuyển về góc đông –bắc xưa theo dịch lý là đất chính nhà Hạ còn số 6 chuyển về góc đông –nam là đất trung tâm nhà Thương .

Hà thư đặt nằm ngang.

Lạc đồ đặt nằm ngang.

Nhưng các biểu thị của số 2 và 6 vẫn giữ nguyên nên ta có tới 2 đất Đào, 2  Hồng bang, 2 đất Việt thường hay Đường và 2 Kinh dương vương.
Khi gặp các thông tin trên phải cẩn thận xem thuộc thời kỳ nào như :
– Viêm bang hay Hồng bang 1 là tên nước thời lập quốc khi trung tâm quốc gia ở đất Đào , triều Hùng Hy.
-Hồng bang 2 là quốc hiệu thời Hạ vương hay Hải lang – Lạc long quân , còn gọi là nước THAO nước ĐÀO ( viết sai thành Tha và Đà như tên vua Nam Việt là triệu Đà hay triệu Tha …).
– An dương vương xây thành ở đất Việt thường thì đó là Việt thường 1 ở bắc Việt ngày nay.
– Nước Việt thường cống chim trĩ cho nhà Chu là Việt thường 2 ở vùng Trường giang.
Nếu không phân định được thì có những tình tiết lịch sử đầy mâu thuẫn khiến ta không tài nào thông suốt .
Kinh Thư thiên Nghiêu điển còn lưu 1 dấu vết rất quan trọng để xác định về mặt địa lý lãnh thổ Trung hoa thời tối cổ : vua Nghiêu sai Hy Trọng đến đóng ở Ngung Di . gọi là Dương cốc , để định mùa xuân…; Ngung di là gốc cổ của tên thành Phiên ngung tức Quảng châu ngày nay và Dương cốc cũng chính là từ mẹ đẻ ra tên Dương thành nay vẫn còn tồn tại , đây là 2 chỉ dẫn đích xác cực kỳ qúy hiếm và khó có thể phủ nhận của cổ thư Trung hoa.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s