Lưỡng quốc kháng Ngụy – (giặc giả năm 220 – 280)


Sau cuộc khởi nghĩa khăn vàng, triều đình Đông Hãn đã lung lay tận gốc; dân tộc trung tâm của Đông Hãn là Quan – Liêu, hay Nam – Lu không còn làm chủ được đế quốc mênh mông nữa. Lịch sử thời này chắc chắn đã bị các sử gia Hán tộc cắt xén, sửa chữa rất nhiều khiến không thể hình dung được lịch sử diễn biến ra sao; chỉ biết sau cơn hỗn loạn đến năm 220 nước Ngụy ra đời trên vùng đất dân Lu hay Liêu gồm cả Quan Lu và Từ Lu và vua đầu tiên là Tào Phi con của Tào Tháo, Tào Tháo là đại công thần triều Đông Hãn tước Tào Vương.

a. Năm 221 ở vùng Xuyên Thục, Lý Bí Hoa sử gọi là Lưu Bị lập nước Thục, năm 222 Tôn Quyền lập nước Ngô ở Giang Nam, Nước Thục và Ngô của người Trung Hoa nước Ngụy của dân Man thành phần chính là người Lu (Liêu). Như thế Trung Hoa đã phục quốc nhưng lại chia làm đôi.

Lý Bí hay Lưu Bị là hoàng thất triều Hiếu hay Hưng Đế, khởi đầu nương nhờ người anh em họ là Lý Thiên Bảo sử Trung Hoa gọi là Lưu Biểu ở Kinh Châu, Kinh Châu bị Tào Tháo chiếm, Lý Thiên Bảo và Lý Bí chạy về Quí Châu, ở đấy Lý Thiên Bảo xưng là Đào Lang Vương ở nơi gọi là Dạ lang , sử Việt Nam viết thành Dã Năng, Dạ Lang là đất của người Lửa –Liêu , Sử Việt viết : Người họ hàng đi theo và tiếp quản cơ ngơi sau khi Lý thiên Bảo mất là Lý Phật tử , nếu đọc là Phật tử thì không thấy có điều gì khác lạ nhưng khi đọc là Bụt tử thì phép phiên thiết cho thông tin qúy gía :Bụt tử thiết bự ( lớn ); Bự ↔Bị↔Bí , Lý Bự ( ông lớn họ Lý ? )↔Lưu Bị↔Lý Bí .

Xét ra vậy cổ sử Việt đã có sự lầm lẫn : Lý Bí không phải là tên gọi khác của Lý Bôn mà Lý Phật tử mới là Lý Bự – Lý Bí – Lưu Bị vua nước Tây Thục thời sử Tàu gọi là Tam quốc ,Sử thuyết Hùng Việt gọi là thời Lưỡng triều kháng Ngụy tức giặc giả (ngụy = giả) thường phát âm sai thành giặc dã .

Người lửa còn nhiều tên khác: La –Lão- Liêu- Lý … Hữu Hổ – ngày nay gọi chung là người Ka Đai, sử Việt lầm lẫn viết nước Dạ lang của người La-Liêu thành Động Dã Năng ở bên Lào. Sau Lý Bí tiến chiếm vùng Tứ Xuyên xưa là đất Phát của Hùng Trịnh Vương – Hưng Đức Lang nên còn được sử gọi là Hậu Lý Nam Đế (Lý Bôn là Lý Nam Đế) , Sử Trung Hoa gọi Lưu Bị là Chiêu Liệt Đế có nghĩa là chúa vùng tây nam (phương Dịch Lý) Chiêu = phía tây; Liệt là biến âm từ chữ Lạc, Lục tiếng Việt phát âm là Nác – Nước; chiêu và liệt là tượng tin Dịch Lý chỉ phương tây nam đồng nghĩa với chữ Tứ Xuyên, Chân Định Xuyên Thục. Câu truyện kết nghĩa Đào Viên lừng lẫy trong lịch sử Trung Hoa của Lưu Bị, Quan Công và Trương Phi đã trở thành điển tích trong văn hóa còn truyền đến tận ngày nay. Sử Việt đã ghi các sự kiện của 2 triều vua Lý Bôn và Lý Bí chồng lên nhau nên không có cơ sở nào để xác quyết là Lý Bôn hay Lý Bí đặt tên nước là Vạn Xuân 1 quốc hiệu cực đẹp thể hiện sự trường tồn và hạnh phúc của dân tộc.

b. Năm 222 Tôn Quyền xưng đế ở Giang Nam, sử Việt Nam gọi là Ngô Quyền; Tôn không phải là họ mà là tôn quí cao trọng ý chỉ thủ lãnh , Tôn Quyền tôn trọng hiền tài nên được văn thần, võ tướng phò tá rất đông.

Đối với Lưu Bị hay Lý Bí, Tôn quyền tỏ rõ sự hòa thân, cho mượn Kinh Châu để Lý Bí đứng chân, gả em gái để Lý Bí trở thành người một nhà với mình . Sử Trung Hoa chỉ nói những việc làm nhân nghĩa thông thường không hé lộ để người ta nhìn ra một liên minh dân tộc giữa Thục và Ngô.

c. Năm 220 Tào Phi cướp ngôi Hãn của con cháu Quan Vũ, ngôi chúa chuyển từ người Quan Lu sang Từ Lu hay Tào Lao, Tào Phi lấy quốc hiệu là Ngụy – từ đó trong ngôn ngữ Việt xuất hiện từ ‘gặc giã’ , Ngụy có nghĩa là ‘giả’ biến âm thành ‘giã’ , sử Việt Nam gọi đích danh triều này là Nam Hãn ( Ngô Quyền đánh quân Nam hán… ), như thế Đế quốc Hãn có 3 triều đại:

Tây Hãn quốc của Canh Thủy Đế Lưu Huyền .

Đông Hãn quốc của Quan Vũ Lưu Tú và

Nam Hãn quốc của họ Tào hay Từ.

Lý Bí được một 1 văn thần kiệt xuất phò tá đó là Khổng Minh Gia Cát Lượng, đối sách liên minh dân tộc với Ngô để cùng chống cường địch Nam Hãn hay Ngụy là tư tưởng xuyên suốt của ông thể hiện tầm vóc và tầm nhìn của bậc vỹ nhân, 1 đời cặm cụi và tận tụy vì dân vì nước đến lúc chết còn làm cho vua Ngụy kinh hồn bạt vía , Ở Trung Hoa còn truyền tụng câu vè:

“Gia Cát Lượng đã về trời

còn làm Trọng Đạt rụng rời tay chân”

Trọng Đạt là tên của Tư mã Ý  tướng nước Đông Hán sau này là vua Cao tổ nước Tấn , Vì ngụy là giả trá nên dân Việt Nam gọi thời lưỡng triều kháng Ngụy này là thời “giặc giả”, sau giặc cỏ đến giặc giả ý nghĩa lịch sử rất rõ ràng vậy mà cả thiên hạ vẫn để bọn viết sử gian xảo lừa gạt ngàn năm qua .

Liên minh dân tộc Thục – Ngô có chiến công vang dội khiến cường địch là Lu Quốc của Khả Hãn phương Mun táng đởm kinh hồn, đó là trận thủy chiến trên sông Dương tử, người Việt gọi là Bạch Đằng Giang, . Sử Việt Nam gọi đây là thắng lợi hiển hách của Ngô Quyền chống Nam Hán. Sử Trung Hoa thì gọi là trận Xích Bích và xác định Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang. Thực ra Xích Bích là biến âm của ‘Thất Bát’ ý chỉ trận đánh ấy Hãn quân của Tào Tháo 10 phần chết 7, 8 hay 70%, 80%. Sau này xích bích, thất bát còn tạo ra nhiều thành ngữ như ‘Thất điên bát đảo’ hay ‘xất bất xang bang’. Tất cả đều chỉ sự đại bại đòn đau quá đến độ quáng gà mất cả phương hướng , Xích bích còn là biến âm của ‘sạch bách’ có nghĩa là ‘chẳng còn gì’ chỉ sự thảm hại của Tào Tháo sau thất bại này.

Sử Việt Nam trong trận Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán gọi Tào Tháo là Hoàng Tháo; có một thông tin sai là Hoàng Tháo không bỏ mình trong trận Bạch Đằng Giang, ông ta vẫn còn sống và gây dựng đế nghiệp cho con cháu họ Tào ( Tề → Tào ).

Đáng buồn là Trung Hoa đã phục hưng nhưng lại chia đôi, khi thục và Ngô liên kết thì kẻ thù phương Bắc đại bại sau chỉ vì những tỵ hiềm ân oán cá nhân làm hỏng đại sự, Thục và Ngô đánh nhau đến suy kiệt và kết quả là cả dân tộc Trung Hoa lại một lần nữa phải oằn oại dưới vó ngựa phương Bắc ( nay )Thời Tam Quốc, Tào Tháo muốn diệt Ngô và Thục nên dùng gián điệp điều tra hai nước này. Được giao việc, Hứa Tịnh báo cáo: “Trong suốt mười năm, tôi đi vạn dặm đường, từ Hội Kế (Cối Kê) tới Giao Chỉ mà bất kiến Hán địa.” Sở dĩ nói vậy là do Hứa Tịnh, như mọi người phương bắc, quan niệm khung cảnh văn hóa lưu vực Hoàng Hà mới là đất Hán. Trong khi đó, vùng nam Dương Tử có quang cảnh khác hẳn, từ con người tới nếp sống nên không phải là đất Hán vì vậy, không thấy đất Hán. [(許靖):“南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地 / Nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa”. 三國志。蜀書].Đi trong vương quốc Hán mà không thấy đất Hán! Thực tế này là chứng cứ cho thấy, không hề có thời Tam quốc phân tranh mà chỉ có thời Lưỡng Việt kháng Ngụy – ngoại – ngoài .

Người họ HÙNG đã mắc sai lầm nghiêm trọng khi xử lý vấn đề của thời đại :

Thành ngữ ‘ thù trong –giặc ngoài ’ là khái qúat vấn đề của thời lưỡng triều kháng Ngụy này , thù trong chỉ tương quan Thục –Ngô là 2 nước của người họ Hùng , giặc ngoài chỉ tương quan giữa Thục – Ngô và nước Ngụy , Ngụy nghĩa là giả nhưng ngụy cũng là đồng âm của ngoại hay ngoài nên Ngụy cũng nghĩa là ‘giặc ngoài ’, đức Trần hưng Đạo gọi sứ của Mông cổ là ‘Ngụy sứ’ theo nghĩa ‘sứ thần của giặc Mông cổ …’cũng nằm trong ý này .

Tiếc rằng thay vì đặt giặc ngoài là vấn đề chính yếu phải ‘ưu tiên’ giải quyết thì vua quan Thục đã làm ngược lại nên ‘giặc ngoài’ ung dung ‘toạ sơn quan hổ đấu ’ cho đến khi cả Thục và Ngô kiệt sức đứng còn không vững họ mới ra tay khiến người họ HÙNG phải hứng chịu tai kiếp nô lệ lầm than lần 2 dài gần ngàn năm .

5. Thời nô lệ nước Tấn (Đế quốc đầu trâu mặt ngựa)

Năm 265 Tư Mã Viêm lên ngôi khả Hãn thay thế họ Tào, Trâu và ngựa trong dịch lý là 2 con vật biểu tượng của phương nam nên đất cực nam trung hoa thời nhà Hiếu gọi là đất Mã , đám cường tặc man rợ ở đây gọi là đám ‘đầu trâu mặt ngựa’ , ‘Tư Mã’ là từ chỉ người Hung Nô ở phía Tây đất Mã thuộc Sơn Tây Trung quốc ngày nay.

Chữ Tư Mã đã gây nhiều lầm lẫn vì Trung Hoa cũng có họ Tư Mã như Tư Mã Thiên V.v… họ Tư Mã Trung Hoa ban đầu là chức quan lo về binh bị trong ngũ quan ( Tư Đồ, Tư Không, Tư Mã )…sau biến thành tên một họ tộc , chính vì từ đồng âm này mà các sử gia coi nhà Tấn là vương triều Trung Hoa , Thực ra họ là Hung Nô tức cũng là 1 Hãn như các Hãn trước đó , ta thấy có sự liên t ục của Tây Hãn, Đông Hãn, Nam Hãn rồi Tây Mã Hãn, người Trung Hoa phải chịu nỗi nhục vong quốc từ năm 23 đến năm 220 ,qua thời độc lập ngắn ngũi lưỡng triều Thục – Ngô lại mất nước năm 280 cho đến hết đời Tây Tấn năm 317 .

Bắt đầu từ đời Đông Tấn năm 317 do tình thế bắt buộc các Hãn phải áp dụng chế độ nửa thuộc địa , người Trung Hoa phải chịu cảnh bán nô lệ mãi đến năm 557 thì vừng dương mới ló dạng ở triều đại Bắc Chu của Vũ Văn Giác sau đó là thời độc lập thống nhất huy hoàng với 2 triều Tùy – Đường. Từ năm 557 kéo dài đần đến năm 907 .

Từ năm 907 trở về sau Trung Hoa lại chịu cảnh xâm lược, chiến loạn triền miên. Chiến tranh dành giật lãnh thổ giữa Trung Hoa và các dân tộc Man phương con cháu các Hãn là trường kỳ , suốt chiều dài lịch sử có thể nói lịch sử Trung Hoa đồng nhất với lịch sử chiến tranh giữa Trung Hoa và các dân tộc phương Bắc (hiện nay), bắt đầu từ thời Tần trước Công Nguyên tới tận thế kỷ 20, thực là cuộc chiến khũng khiếp kéo dài 2.000 năm.

Khi Trung Hoa thắng thì cảnh thái bình thịnh vượng bày ra, còn khi bị đánh bại thì phải chịu nỗi cơ cực tủi nhục của thân nô lệ, 2 kẻ thù truyền kiếp này quấn chặt vào nhau đến nỗi sử Trung Hoa ngày nay nhập chung 2 thành 1, Hoa và Hãn hợp nhất thành 1 khối dị kỳ : nước Trung Hoa nhưng lại là người Hãn.

Tư Mã Viêm lập nước Tấn từ năm 265 nhưng phải đến năm 280 sau khi diệt Ngô thì đế quốc ‘Đầu trâu mặt ngựa’ mới thực sự làm chủ toàn bộ Trung Hoa. Tuy làm chủ Trung Hoa nhưng các triều đại của vua Man tức các Hãn cũng hãy còn vương vấn cái nếp của các bộ lạc du cư, chưa phải là sinh hoạt của 1 dân tộc định cư ỗn định lâu đời. Sự tổ chức và cai trị quốc gia của họ chưa thoát ra được kiểu tổ chức lãnh chúa và các tộc trưởng nên chỉ sau vài năm yên ổn là đã có mầm mống nội loạn , đất Trung Hoa bị chia thành hàng tá các nước nhỏ, chỉ cần 1 tia lửa mồi là thùng thuốc súng bùng nổ, cuối thời Tây Tấn là “Bát vương chi loạn” chém giết nhau khũng khiếp , Mỗi vương liên kết với 1 sắc tộc người Man để tiến hành việc tranh quyền đoạt lợi, chỉ tội nghiệp người Trung Hoa cuộc sống và nhân phẩm không khác gì loài vật, ai làm thịt cũng được.

Năm 304 sau công nguyên 8 tộc trưởng Hung Nô hợp lại bầu Lưu Uyên làm thủ lãnh, chiếm Lý Thành ở Sơn Tây xưng Đại Hãn, lập 1 Hãn quốc khác độc lập với Tây Mã Hãn (nhà tây Tấn), vài năm sau cơ cấu song Hãn quốc mới lập này tổng tấn công Tây Mã Hãn và chẳng bao lâu Đại Hãn Lưu Thông (người kế nghiệp Lưu Uyên) đã chiếm hết miền Bắc Trung Hoa. Năm 317 Tư Mã Duệ lập ra nước Đông Tấn đóng đô ở Kiến Nghiệp (Nam Kinh) .

Năm 307 Tư Mã Duệ một hoàng thân kém vai vế trong hoàng tộc Tây Tấn được phái xuống cai trị vùng Nam sông Dương Tử, lúc đó được coi là vùng gai góc vì dân thuần là người Hoa, Tư Mã Duệ khôn khéo theo đường lối dùng người Hoa trị người Hoa, guồng máy cai trị triều Tấn cộng tác với thành phần có máu mặt người Hoa, hình thành kiểu chính quyền liên hiệp: Hãn – Hoa, vì thế Tư Mã Duệ đã thành công trong việc giữ yên phương Nam.

Thực chất của nhà Đông Tấn không còn giống nguyên mẫu đế quốc Tấn, nó trở thành dạng chính quyền liên kết Hãn – Hoa, dân Hoa được hưởng 1 phần của quyền làm người, được tham gia công vụ 1 cách giới hạn, Dĩ nhiên thẩm quyền tối cao vẫn thuộc về Hãn và dân tộc của ông ta.

Thời này văn hóa Trung Hoa cũng khởi sắc đôi chút, dân Hoa dễ thở nên chủ yếu chăm lo làm ăn nuôi thân, không nghĩ đến việc “phục quốc”. Đã có lúc với sự đứng đầu của Chu Hy tưởng đâu sĩ phu phương Nam thành công với sách lược “diễn biến hòa bình”…., nhưng sau cùng cũng thất bại Chu Hy buồn đau mà chết.

Năm 420 Lưu Dụ buộc Tấn Cung Đế thoái vị và ông ta lập ra triều Lưu Tống ( triều Tống của người Liêu ) tiếp tục cai trị phương Nam ̣ . Ở phương Nam Trung Hoa loại hình nửa đế quốc đã thành công trong việc cai trị từ năm 417 đến tận năm 589 mới chấm dứt, qua các triều Đông Tấn, Lưu Tống, Tề, Lương, Trần, tổng cộng là 172 năm , Càng về sau sự Hoa hóa càng mạnh, đến đời Trần hầu như chính quyền là chính quyền của Trung Hoa, triều Trần đặc biệt với Trần Bá Tiên đã làm nhiều việc ích nước lợi dân chăm lo cho người dân như là ông vua Trung Hoa chính gốc, mất hẳn chất đế quốc cai trị .

xét ý nghĩa Tên các vua mà lịch sử đặt cho triều Trần ta thấy rất có thể họ là người Trung Hoa chứ không phải Đại Hãn như : Trần Bá Tiên chỉ có nghĩa là vị bá thứ nhất của phương Đông, Trần là chữ Đông ghép với chữ A, tương tự như ông Cơ Xương là Tây Bá khi xưa. Kế đến, Trần Thiên nghĩa là trời đông; rồi Trần Bá Tông là bá phương đông chính dòng V.v…

Từ năm 308 trở đi Trung Hoa bị 2 Hãn quốc cai trị : Hoa Nam là chính quyền nửa đế quốc, Phía Bắc sông Dương Tử chịu sự cai trị của Hãn quốc do Lưu Uyên lập nên. Sau đó năm 386 dòng Thác Bạt lập nước Bắc Ngụy rồi Đông Ngụy – Bắc Tề.

Năm 557 Vũ Văn Giác phục quốc cho Trung Hoa, quốc hiệu là Chu, sử Trung Hoa gọi là Bắc Chu để phân biệt với các triều Chu khác.

Trong các đế chế cai trị vùng Hoa Bắc đáng chú ý là dòng Thác Bạt quốc hiệu là Ngụy sử Trung Hoa gọi là Bắc Ngụy. Thác Bạt Khuê khi tuyên lập nước Ngụy cho dòng tộc Thác Bạt đã công khai thừa nhận: người Hán và Thác Bạt là anh em cùng gốc, nói theo danh từ khoa học ngày nay họ cùng thuộc loại hình nhân chủng Mongoloit. Như thế đã rõ : người Hán không phải là người Hoa .

Dòng Thác Bạt cai trị Bắc Trung Hoa tới đời thứ 6 là Hiếu Văn Đế thì cải họ Thác Bạt thành họ Nguyên, theo Hoa ngữ ‘nguyên’ là mã tin Dịch Lý cùng gốc với chữ nguồn – gốc – bản- số 1- khởi đầu- Nước- Giang …v.v . Tất cả chỉ có ý nghĩa là phương nam ngược với phương nóng bức ở hướng xích đạo, Việt ngữ biến âm Nguyên thành họ Nguyễn. Cùng với việc cải họ Hiếu Văn Đế nước Bắc Ngụy cũng cải cách toàn diện theo phong tục, lễ giáo của người Trung Hoa. Thác Bạt là quí tộc người Tiên Ty trước khi vào Trung Hoa họ còn là những bộ lạc du mục, cuộc sống còn ít nhiều nét man dã, sau khi chiếm Bắc Trung Hoa họ cảm nhận được cái hay của nền văn minh cao hơn của họ nhiều, vì thế quyết định của Hiếu Văn Đế là quyết định sáng suốt biếu cho dân Tiên Ty đôi hia 7 dặm, bước nhanh tới văn minh . Thác Bạt ngôn ngữ Hoa có nghĩa là Thổ Hậu hay Địa Hoàng còn tên tộc Tiên Ty do các sử gia Trung Hoa đặt. Tiên là khởi đầu, thứ nhất, số 1; Ty là thấp ngược với tôn là cao, là quý – Tiên Ty là mã tin Dịch Lý chỉ vùng phía Nam hay phương nước.

Ngụy là tên nước của dân Man thời sử Trung Hoa gọi là Tam Quốc, tổ của nước Ngụy là Tào Tháo; tới tận ngày nay trong ký ức của người Việt vẫn in đậm thời này và họ thường gọi người phương Bắc (phương hiện nay) là người Tào biến âm thành Tàu, hoặc là Xẫm đúng ra Sẫm tức màu tối. Theo quy luật Dịch Lý chỉ dân sống ở phương Nam hay Huyền phương là đối lập của dân nhiệt hay hỏa còn gọi là Viêm Bang là dân hướng nóng bức .

Ngụy Hiếu Văn Đế tên là Thác Bạt Hoằng đổi tên Trung Hoa là Nguyên Hoằng, sau khi “Hoa hóa” nước bắc Ngụy hưng thịnh được 1 thời gian thì vua quan bắt đầu sa đọa, vì đã “Hoa hóa” nên Bắc Ngụy có cái hay là không phân biệt Hãn – Hoa, ai cũng là con dân của Đại Hãn .

Do thượng bất chánh hạ tất loạn, quyền hành ở Bắc Ngụy dần dần rơi vào tay 2 đại tướng, đại tướng Vũ Văn Thái là người Hoa chính gốc, trấn nhậm miền tây tức Tứ Xuyên, Thiểm Tây ngày nay. Thời cuộc đã trao vào tay ông cơ hội, ông liền chớp thời cơ cùng con sau 1 thời gian chuẩn bị thế lực đã đủ bèn lật đổ ách thống trị của tộc Thác Bạt khôi phục truyền thống Trung Hoa và nước Chu ra đời, sử Trung Hoa gọi là Bắc Chu để phân biệt với các triều Chu khác.

Sử Việt Nam gọi quốc gia – Trung Hoa phục hưng đó là triều “Đinh Hoàng”; Đinh là mã tin Dịch Lý chỉ phương tây, phương không đổi hay còn là cứng, cương, đứng, tịnh, tĩnh … biểu tượng là con voi hay Tịnh – đấy cũng là đất Chân Định, Chân Đanh của nhà Tần – Hiếu xưa , còn được gọi là Xuyên Thục, Chân Định (nay là Tứ Xuyên). Vua khai phá và lập quốc ở vùng này thời nhà CHU là dòng họ Đinh của Tần Thủy Hoàng- Đinh Tiên Hoàng , Nay nước Trung Hoa tái lập ở đó nên sử Việt Nam gọi là triều ‘Đinh Hoàn’ hay ‘Đinh Hoàng’ quốc hiệu mới là ‘Đại Cồ Việt’.

Các triều kế tiếp là Tiền Lê của Lê Hoàn, Lý 1 của Lý Uyên không thấy sử nói đến việc đổi quốc hiệu, mãi tới triều Lý 2 của anh em Lý Cung- Lý Ẩn (Lưu Cung- Lưu Ẩn) mới xuất hiện quốc hiệu mới là Đại Việt thay cho Đại Cồ Việt

Advertisements

5 comments

  1. Bạn thân ,
    Tư Trị Thông Giám của Tư Mã Quang chắc chắn là hàng trong Tứ khố toàn thư tức 4 cái kho hàng gian hàng giả , như thế độ tin cậy của thông tin trong sách đó cũng miễn bàn …
    Nói Ngô quyền đánh Kiều công Tiễn ở Giao châu xét về tỉ lệ diện tích đất chẳng khác nào nói người Quảng Đông đánh nhau với chúa đắt Quảng Tây ở Trung quốc , Ngô Quyền từ Thanh hóa kéo ra bắc đánh Kiều công Tiễn tức vẫn loanh quanh vù ng Giao chỉ trong khi thông tin địa lí xác định nơi diễn ra là Giao châu tức Giao chỉ cộ̣ng với Quảng Đông Quảng Tây thì …nói lên điều gì ?.
    Đoạn sử trên thực ra chỉ là thông tin thời Ngô Tôn Quyền hay Ngô vương Quyền đánh nhau với Lưu Biểu dành Kinh châu , Kinh châu bị cạo sửa thành Giao châu , chẳng có nhân vật lịch sử nào tên là Kiểu công Tiễn , Cha của Tôn Quyền là Tôn KIên chết vì mũi tên do tướng của Lưu Biểu bắn , tiễn là tên , Kiểu công chính xác là Cửu công tức thủ lãnh phía Tây ở đây là Lưu Biểu , cửu là số 9 dịch tượng chỉ̉ phương Tây , Kiểu kinh cũng là cửu 9 kinh nghĩa là Tây kinh , từ sự việc mũi tên do quân lính của ‘ông phía Tây’ bắn hoá thành 1 nhân danh Kiểu công Tiễn thì siêu thật nhưng chính thông tin này đã góp phần dẫn lịch sử Việt vào ngõ cụt chẳng còn biết đâu mà lần.
    Sử thuyết Hùng Việt cho Thiên hạ có 2 triều Ngô ,
    * Triều Ngô của Ngô vương hay Ngô vương quyền cũng là Ngô tôn quyền thời Hán sử gọi là Tam quốc .
    * Triều hậu Ngô của Ngô Văn Xương tức Ngô vương nước Đại Việt – Đại Hưng đô ở Phiên Ngu .Quảng Đông .
    Sử Việt đã trộn lẫn thông tin 2 trận thủy chiến ở 2 thời làm một .
    Thời Ngô trước thì Ngô tôn Quyền đánh Tan quân Hán do Tào Tháo chỉ huy trong trận Xích Bích , Tào Tháo biến ra Hòàng Tháo , sự thực chỉ có 1 Hán quân , các từ Đông và Nam là do người viết sử thêm vào .
    Thời hậu Ngô nước Đại Việt Đại Hưng Ngô vương Lê Nghiễm đánh tan quân Nam Sở trên phụ lưu Tây giang gần Triệu Khánh năm 928.
    2 dòng thông tin trộn chung thành ra … Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng trong Việt sử .
    Lịch sử Thiên hạ thời Hoa Nam thập quốc chỉ có nước Đại Việt – Đại Hưng , nước Nam Hán chì là nước của đám phù thủy vẽ ra cố ý khiến lịch sử Thiên hạ rối tinh rối mù lên .
    Chính nhân danh và diễn biến trong 2 dòng sử đã chỉ ra 2 là 1 :
    *Ngô Quyền và Ngô vương Quyền chỉ là 1 ông Quyền nước Ngô
    *Tào Tháo và Hoằng Tháo cũng chỉ là 1 ông Tháo , hoàng là chúa , Tào là nước Tào – Tề
    * Sử Thiên hạ viết Tôn Kiên cha Ngô vương Quyền chết vì ‘Kiểu công tiễn’ nghĩa là chết vì mũi tên của Kiểu công hay Cửu – 9 công , tư liệu Việt nhầm thành ra Dương diên Nghệ cha vợ Ngô Quyền chết do người ‘họ Kiều tên Tiễn’ giết .
    *Ngô Quyền và Ngô vương Quyền đánh chỉ 1 quân Hán , 2 từ Đông và Nam ghép thêm vào với Hán chẳng qua cố ý làm rối sử sách , Sử thuyết Hùng Việt cho Thiên hạ chỉ có nước Đại Việt – Đại Hưng – Đại Hơn chẳng có nước nào là Nam Hán – Nam Hớn cả .
    * Bạch đằng có thể chỉ nghĩa là quãng phía Tây sông Đẳng – Đàng – Đường tên gọi khác của Trường giang , còn khi gọi tên trận ‘Xích Bích’ là ý nói lên trận này Hán quân do Tào Tháo hay ông hoàng tên Tháo chỉ huy bị Ngô vương Quyền đánh cho ‘xất bất sang bang’ , 10 phần chết 7 còn 3 , xích bích chỉ là biến âm của thất bát nghĩa trong Việt ngữ là mất mát .

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s