HÙNG VIỆT sử ca .


Tác giả Bách Việt 18 .

 

Hùng Việt sử ca – mở đầu

 

Mảnh đất Việt vạn năm văn hiến
Buổi bình minh trời biển non sông
Có nghe con Lạc cháu Hồng?
Chuyện cha ông thủa vua Hùng đau thương.
Nước nhà còn nhưng hồn đâu mất?
Sử vạn năm phút chốc đổi trao
Bụi thời gian mờ mịt sao
Tẩy sơn, gạt bụi lại cao ngàn trùng

 

 

 

Thần thoại.

Lúc sơ khai chưa phân trời đất
Từ hư vô Bản Cả hiện lên
Múa rìu sáng thế mà nên
Hỗn mang bổ vỡ, thủy nguyên khởi đầu.
Chất nặng đục chìm sâu thành Lạc
Khí nhẹ bay tụ tán thành Hà
Cùng trời cùng đất sinh ra
Đội trời đạp đất chúng ta – Con người.
Lấy lửa trời xua màn đêm giá
Biết nghĩ suy dùng đá thay tay
Tiếng nói xuất hiện từ đây
Tựu Nhân hai chữ mà đầy triệu năm.
Danh Vũ Võng tiếp thời thần thoại
Đất có vua thoát cảnh bầy đàn
Cộng đồng đẽo đá, lưới đan
Xuống sông bắt cá, lên ngàn săn muông.
Dựng cọc tre mà trông bóng nắng
Đế họ Sào đã nắm không, thời
Tre to mọc ở mấy nơi?
Cây nêu còn tục, rõ trời phương Nam.

 

 

 

Dã sử – HÙNG VƯƠNG

 

Kể năm đã vạn năm có lẻ
Ánh hồng soi rạng tỏ nơi nơi
Nước non có lúc đầy vơi
Thay nhau trị mười tám đời Hùng Vương.
Triều thứ nhất Hùng Dương – vua Cả
Đức Phục Hy xuân kỷ ứng hành
Sắc hình là chiếm màu xanh
Đất đai làm chủ Động Đình – biển Đông.
Khởi Dịch học kết thừng làm số
Qui chép thư, long mã chép đồ
Biết ăn, biết mặc ấm no
Đồng bào chung sức, cơ đồ dựng xây.

 

 

 

Hùng Hiển

Triều thứ hai Thần Nông Viêm Đế
Hùng Hiển Vương tổ phụ bức phương
Ánh hồng nối tiếp tình thương
Xuân càng đậm sắc,hạ càng sáng tươi
Trên đồng xanh mồ hôi đổ nặng
Tay gieo trồng dẫu nắng dẫu mưa
Dậy dân làm lúa thu mùa
Vạn năm ơn đó, chuyện xưa vẫn còn.

 

 

 

Hùng Nghị. Hùng Diệp

Qua cái thủa ăn hang ở lỗ
Triều thứ ba Hùng Nghị Thái Khang
Chấn Tây xưng đức Bảo Lang
Quần cư sinh sống Mễ Cương một dòng.
Phương gió lạnh mùa đông Thái Tiết
Triều thứ tư Hùng Diệp Quan Lang
Chặt tre buộc ghép thành hàng
Mảng bè vận chuyển dọc ngang sông hồ.
Tiền lập quốc bốn bề hội đủ
Dấu còn đây đất mẹ dưỡng thành
Bao năm truyền mãi sử xanh
Gian nan thủa mới nên hình nước non.

 

 

 

Hùng Vũ

Trải dâu bể năm ngàn năm trước
Bên dòng Chu xanh mướt ruộng đồng
Đọ Sơn, sông Mã ghi công
Khai quốc Hùng Vũ, tổ dòng họ Cơ.
Nước sông Cả tới giờ vẫn chảy
Núi Hang Bua dấu hãy còn in
Họ Hùng lập quốc khai tên
Triều thứ năm đức Hiên Viên đứng đầu.
Trận Trác Lộc dầu dầu sương khói
Kim chỉ Nam dẫn lối đưa đường
Diệt Xuy Vưu chốn xa trường
Thu Cửu Lê cánh đồng Chum Hạ Lào.
Thắng Viêm Đế Đường Đào một giải
Cùng Vụ Tiên Đan Thủy nên duyên
Nước non mãi mãi kết liền

 

Hưng Bang Viêm Việt còn truyền đại danh.
Xếp vạch quẻ nên hình bát quái
Gói càn khôn trời biển gió mưa
Rồng bay, hạc múa, nai đùa
Hổ chầu, voi phục, sấu, rùa lội bơi.
Thuật cứu người Nội kinh tố vấn
Thấu đạo trời y thuật diệu minh
Âm dương luân chuyển, ngũ hành
Thông kinh, đả mạch tài tình, cao thâm.
Nhớ Hoàng Đế, nhớ ân Lụy Tổ
Dạy con dân canh cửi tằm tang
Dâu xanh, tằm nhả kén vàng
Kéo tơ, dệt lụa, tơ vương tay người.

 

 

 

Hùng Nghi. Hùng Thuấn

Nam Giao Chỉ một thời mở cõi
Hùng Hy Vương dòng dõi đế Minh
Đế Nghiêu đất nước thanh bình
Triều thứ sáu quốc hiệu danh Hồng Bàng.
Tiếp ngôi báu Lâm Lang, Hùng Thuấn
Triều thứ bảy đô đóng bản Bồ
Lạc Quốc dựng một cơ đồ
Ghi thời thịnh trị Đường Ngu đời đời
Đền Phong Châu ngút trời hương khói
Chữ vàng in Triệu Tổ Nam Bang
Từ sông Thao đến Châu giang
Dấu người Tày cổ bao ngàn đời nay.

 

 

 

Hùng Việt

Kìa một thuở biển đầy sóng gió

 

Ngọn triều dâng khắp chốn thành sông
Trắng trời nước ngập mênh mông
Cuốn băng nhà cửa ruộng đồng lúa ngô
Cửa Long Môn đắp bờ khơi suối
Nước càng cao, dựng núi càng cao
Vượt bao vất vả gian lao
Dân theo Hùng Việt quản nào thiên tai
Ba dòng tộc chung vai gắng sức
Nghi, Minh, Long nên bức Ba Vì
Sa Pa bãi đá khắc ghi
Liên Sơn dịch phép diệu kỳ ngàn xưa
Biển Đồ Sơn bao mùa vẫn nhắc
Hội chư hầu đủ khắp bốn phương
Nước non nên lúc thịnh cường
Triều thứ tám đức Tản Viên rạng ngời
Còn đâu đó dấu thời mở nước
Vết Phùng Nguyên, Đại Vũ Sơn Tinh
Quốc gia, dân tộc thành hình
Dứt thời sơ sử, chuyển mình vươn cao.

 

 

 

Hùng Hoa

Nước Nhĩ Hà dòng Thao cuồn cuộn
Mặt biển Đông dậy sóng xuất rồng
Thay cha nối nghiệp Lạc Long
Triều thứ chín đức Hải Lang hào hùng.
Khởi nhà Hạ Khải vương đoạt định
Tránh giao tranh Bá Ích di cư
Thanh Long – Bạch Hổ từ giờ

 

Hoa – Di cuộc chiến hơn thua không ngừng.
Nên vương quốc đúc đồng dựng đỉnh
Mở biên thùy bờ cõi chín châu
U – Minh đô đóng hai đầu
Bốn trăm năm lẻ đỏ mầu Hồng Bang.
Ham săn bắn Thái Khang lưu lạc
Bắn mặt trời Hậu Nghệ cứu dân
Hạn hán khô cạn ao đầm
Vua u tối để con dân bần hàn.
Hữu Ngu giúp Thiếu Khang phục Hạ
Thời Trung Hưng khai phá Cối Kê
Xăm mình, lội nước đắp đê
Đất thờ vua Vũ thành quê thành nhà.
Bốn ngàn năm dân Hoa dân Việt
Trang sử vàng bước tiếp người xưa
An Ấp còn đó Hoa Lư
Bồng Lai quê Mẹ bây giờ Hạ Long.

 

 

 

Hùng Huy

Đời Hạ Kiệt hoang dâm tàn bạo
Dựng lâu đài cung điện nguy nga
Dân chúng khốn khổ thán ca
“Mặt trời hãy tắt, chúng ta chết cùng!”
Dòng Đế Tiết Thành Thang nuôi chí
Tìm minh quân Y Doãn theo hầu
Mệnh trời chẳng phải đợi lâu
Cửu Di bất phục, rơi đầu hôn quân.
Tam Miêu kể từ lần Thuấn đế
Xuất Nam Giao, nay thế ngất trời
Hạ qua Xuân lại tới nơi
Long Tiên Lang triều thứ mười Hùng Huy.
Trùng trùng điệp uy nghi Ngũ Lĩnh
Đất trung tâm châu chính Kinh Dương
Quốc danh xưng hiệu Việt Thường
Xanh bên dòng nước sông Đường thủa xưa.
Qui tàng Dịch lưng rùa khắc chữ
Giáp cốt văn truyền tự mai sau
Thập can con số nhiệm màu
Mười tám vua nối tiếp nhau trị vì.

 

 

Hùng Vĩ

Dòng Trường Giang những khi tác quái
Ngập kinh thành nên phải dời đô
Vương tôn, quí tộc chẳng lo
Bàn Canh cùng với nông nô vượt hà.
Âu xiết kể trải qua gian khó
Thủa ban đầu Hùng Vĩ lập Ân
Kinh Man mở đất an dân
Triều thứ mười một, Thương lần thứ hai.
Phương Nam tiến đã ngoài vạn dặm
Từ Đào Đường nay chiếm Hoàng Hà
Đông Di, Nhung Địch đuổi ra
Trụ vương đô đóng Triều Ca, Lộc Đài.

 

 

 

Hùng Chiêu

Mổ bụng chú Ác Lai tàn bạo
Thánh đức dày Tây Bá Cơ Xương
Dĩu Lý tác Dịch phi thường
Sáu mươi tư quẻ rọi đường đi lên.
Dựng nghiệp lớn xây nền văn hiến
An Dương Vương đánh chiếm nước Sùng
Cơ trời Âu – Lạc nên chung
Quốc Tiên Lang mở triều Hùng mười hai.
Ngàn năm chẳng nhạt phai dòng máu
Chu Văn Vương con cháu Hiên Viên
Thiên di dấu tích còn nguyên
Lang Liêu, Cổ Thục một miền Vân Nam.
Nước muôn dặm Văn Lang một mối
Chọn đô thành đóng cõi Châu Phong
Hai bề Xuyên Thục, biển Đông
Trên Hồ Nam, dưới Hồ Tôn rõ ràng.

 

 

 

Hùng Ninh

Tiếp nghiệp cha Ninh Vương Cơ Phát
Hội chư hầu chinh phạt Ác Lai
Lên ba Thánh Gióng anh hài
Tung hoành ngựa sắt, khiếp oai giặc thù
Đốt Lộc Đài ù ù lửa khói
Dứt nhà Ân để nối nhà Chu
Bạch kỳ lồng lộng trời thu
Thừa Văn Lang – vua mười ba triều Hùng
Đây đất nước trùng trùng điệp điệp
Bốn phương trời đẹp tuyệt non sông
Văn Lang, Âu Lạc rạng hồng
Vòng quay Hà Lạc trống đồng ngàn năm
Chu hoàng đế tôn Văn, xưng Vũ
Dời Phong Châu, trấn giữ Cảo Kinh
Phân phong an định dân tình
Tề – Tây, Yên – Bắc, Sở – Kinh, Lỗ – Lào
Ngô cùng Việt tiếp giao bờ biển
Tấn với Tần phương cóng xa xăm
Hiếu sinh mở đức nhà Ân
Vũ Canh được giữ đất phần An Huy.
Tam Thúc giám để nguy xã tắc
Chống mệnh trời nghịch tặc kết binh
Chu Công vâng lệnh triều đình
Dẹp quân phản loạn, đắp thành Cổ Loa
Một thể chế Trung Hoa đất nước
Móng Kinh Qui lại được giao truyền
Cao Lỗ, Thục Phán lưu tên
Chu Dịch, Tông Pháp đặt nền văn minh.

 

 

 

Hùng Tạo

Loạn Quốc Nhân bỏ kinh trốn chạy
Chu Lệ Vương lưu Trại Hòa Bình
Vua tào bạo, dân điêu linh
“Cộng hòa hành chính” lập thành thay vua.
Lửa Ly Sơn trò đùa tai quái
Mua nụ cười mà hại đến thân
Bao Tự mê hoặc hôn quân

 

U Vương thác loạn, Khuyển Nhung phá thành.
Thế nước yếu hoàn kinh Cổ Lũy
Chu Bình Vương về lại Phong Châu
Tấn Tần tranh bá chư hầu
Sở, Tề, Tống đổi thay màu Xuân Thu.
Đông Chu nối Tây Chu thiên tử
Triều mười tư Hùng Tạo Quân Lang
Chiến Quốc máu chảy tràng giang
Xương chất thành núi, tiếng than dậy trời.
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.
Rạng rỡ thay một thời cổ sử
Mấy ngàn năm còn tỏ trời Đông
Văn minh đúc mặt trống đồng
Hướng về tiên tổ, nhận dòng anh em.

 

 

 

Hùng Định

Lặng lặng im mà nghe chuyện cũ
Tráo nỏ thần Trọng Thủy bội ân
Quốc Tây cự tráng Chân Đăng
Nhà Chu dứt, nối nhà Tần lập nên.
Diệt sáu nước Đinh Tiên Hoàng đế
Lấy Lạc Dương chia Quế, Tượng, Tam
Xua quân Ngô Việt qui hàng
Chiếm vùng Hà Sáo, vượt sang Hoàng Hà.
Nước Vỹ Thủy chảy ra biển lớn
Đất nhà Tần khắp bốn phương trời
Phân chia quận huyện rạch ròi
Trung Hoa thống nhất vào thời Chân Lang.
Thứ mười lăm triều Hùng Cồ Việt
Xây Trường Thành làm kiệt sức dân
Xa đồng trục, thư đồng văn
Chôn Nho, đốt sách oán ân để đời.

 

 

 

Khởi nghĩa chống Tần

 

Thủy Hoàng mất nơi nơi nổi dậy
Các chư hầu muốn lấy đất xưa
Quan Phục Trần Thắng xưng vua
Bên đầm Dạ Trạch đôi mùa giao tranh.
Hận nước cũ Hạng Lương, Hạng Tịch
Đất Cối Kê thiết lập quân binh
Dương Châu thành lũy chiếm nhanh
Tôn Sở Vương cờ nghĩa dành về tay.
Chém rắn trắng oai này Xích Đế
Chốn Mường Đăng khởi nghĩa Lý Bôn
Phong Châu cờ đỏ trống dồn
Bái Công vào trước kinh Tần yên dân.
Cậy sức mạnh đốt cung Hạng Vũ
Tiếm xưng vua Từ Sở Bá Vương
Hưng Suy đối kháng đôi đường
Tranh hùng thắng bại, Ô Giang kết hồi.

 

 

Hùng Trịnh

 

Mở nhà Hiếu lên ngôi Nam Đế
Triều mười sáu Hùng Trịnh Hưng Lang
Vạn Xuân tên nước vẻ vang
Hai trăm năm một trang vàng chép ghi.
Công lập quốc phân chia vương tước
Sở Hồ Nam Hàn Tín lãnh phong
Bành Việt ra chốn đất Long
Vương Anh Bố ở phía Nam sông Hoài.
Cáo mưu phản đất đai thu lại
Khó lường thay lòng dạ quân vương
Hứng ca này lúc qui hương
“Phong khởi hề Vân phi dương” khải hoàn.
Dẹp Hung Nô tiến sang dặm Bắc
Mở tầm nhìn đi sứ phương Tây
Giao thương tơ lụa, ngà voi
Lấy đạo Khổng để sáng soi quốc hồn.
Kế tiếp nhau Cao, Văn, Vũ Đế
Mười ba đời xiết kể thời gian
Một triều đại thật huy hoàng
Lưu danh sử sách, mở mang bốn bề.

 

 

 

Hùng Triệu

 

Giết ngựa trắng ăn thề dòng máu
Chỉ phong vương con cháu họ Lưu
Bất thành Lữ Hậu âm mưu
Phương Nam lại nổi bụi màu can qua.
Xưng Vũ Đế Triệu Đà vua Việt
Tướng Lữ Gia giúp nghiệp oai hùng
Đô thành đóng cõi Phiên Ngung
Lọng vàng, xe lớn ung dung đi về.
Triều mười bảy Cảnh Thiều Hùng Triệu
Ánh Lạc Hồng lại chiếu non sông
Ba đời vua chốc như không
Bác Đức tiến đánh, Thái Long di rời.

 

 

 

Hùng Duệ

 

Vận suy bĩ cuối đời nhà Hiếu
Hùng Duệ lên xưng hiệu triều Tân
Phục cổ cải chế việc công
Muốn hưng nghiệp nước bội phần khó khăn.
Quốc lực cạn loạn dân nổi dậy
Khắp bắc nam chống lại triều đình
Cờ hồng quyết trận nhục vinh
Đệ tử đạo Giáo hợp thành Xích My.
Lũ giặc cỏ ngụy uy Cao Tổ
Núi Lục Lâm thảo khấu được thời
Lỡ làng vận nước cơ trời
Thương thay Vương Mãn đầu rơi ngai vàng.
Trải mười tám triều Hùng đất nước

Lúc hưng suy thời cuộc bể dâu
Vạn năm đào đỏ sắc màu
Cửu trùng thiên điện cúi đầu kính vua.

 

 

 

Vong quốc sử

Vong quốc sử hay chưa Hùng tộc?
Đảo đất trời Nam Bắc đổi ngôi
Mưu gian Lu Tối gạt đời
Đắng cay Hoa Việt, than ôi sơn hà!
Ngã Nam Giao can qua nương trú
Đất Lạc Hồng kẻ sỹ nắm quyền
Tinh hoa, nhân kiệt mọi miền
Về chung đất tổ giữ nền văn minh.
Thằng Mặt Ngựa lĩnh binh bình định
Tổng tiến công chiếm đánh phương Nam
Than đen đổ lẫn đá vàng
Trống đồng thu triệt, ngựa mang đúc về.
Thời Linh Đế xa hoa hủ bại
Lũ hoạn quan gà mái gáy trưa
Mua danh, bán tước, hiếp vua
Triều đình man hãn lộ ra rõ rành.
Quận Cự Lạc tài anh nổi dậy
Quấn khăn vàng Trưng Trắc phất cờ
Vì thơ sách, vì cơ đồ
Vì nghiệp Hùng tộc báo thù một phen.
Sáu nhăm thành Lĩnh Nam quyết chiến
Đàn áp dân Hà Tiến, Tào Lao
Thương ôi đất nhuộm máu đào
Voi rơi nước mắt, sông trào lệ thu!

 

 

 

Lưỡng triều chống Ngụy

 

Nuôi chí lớn báo thù, phục đế
Từ trắng tay Lý Bí làm nên
Đào viên kết nghĩa anh em
Dạ hồng Quan Vũ, tiếng rền Trương Phi.
Bỏ Châu Kinh lui về Châu Quí
Nước Dạ Lang Thiên Bảo xưng vương
Mưu thần, chước lạ dị thường
Trổ tài Gia Cát, trấn phương phá Tào.
Noi Hùng Trịnh tiến vào Xuyên Thục
Một trời Tây Chiêu Lạc định đô
Đông Ngô kết tóc xe tơ
Phục Man, dẹp Bắc cơ đồ mở mang.
Sông dậy sóng Trường Giang một dải
Ngô Tôn Quyền trọng đãi hiền tài
Xích Bích nổi lửa trần ai
Thiêu quân Hoàng Tháo chạy dài, thua đau.
Chung tiên tổ cùng màu Bách Việt
Chống Ngụy quân liên kết răng môi
Vì chưng xích mích nhỏ nhoi
Đây Ngô, kia Thục tách đôi hai đường.
Lý Phật Tử hèn vương, nhu chúa
Thục mất rồi, Ngô chẳng được lâu
Bạo tàn mặt ngựa đầu trâu
Nỗi dân mất nước oán sầu những năm.

 

 

 

Thời nô lệ nước Tấn

 

Thói man rợ quen thân du mục
Lấy đất đai chia tước phong vương
Bóc lột, vơ vét đủ đường
Xa hoa Vương Khải, Thạch Sùng đua nhau.
Vua ngu độn có đâu như thế
Hỏi ếch kêu Huệ Đế tức cười
Bát vương chi loạn khắp nơi
Đô thành tan nát, người người đói ăn.
Loạn Ngũ Hồ chia phân đất nước
Khổ dân Hoa sống kiếp lầm than
Hết Tiên Ty đến Khiết Đan
Hung Nô, Mông, Tạng bầy đàn cắn nhau.
Nửa đế quốc mở đầu Đông Tấn
Hán dùng Hoa để trị người Hoa
Phỉnh dân quên chuyện nước nhà
Phương Nam yên ổn dĩ hoà mươi năm.
Qua Liêu Tống, Tề, Lương tiếp nối
Thế Hán Hoa thay đổi cán cân
Nam triều truyền tới Bá Trần
Người Bách Việt dành lại phần Hoa Nam.
Dòng Thác Bạt trên miền Hoa Bắc
Học theo Hoa, Tiên tộc tiến nhanh
Cải họ Nguyên, chuyển kinh thành

 

Nước Ngụy hưng vượng phong thanh Bắc triều.

 

 

 

Thời phục hưng

 

Thời cơ đến Chu tiêu diệt Ngụy
Đây Đinh Hoàn từ đất Tứ Xuyên
Phục Hoa Văn Giác dựng quyền
Đại Cồ Việt quốc danh truyền thiên thu.
Dương Kiên phế vua Chu, lập Tuỷ
Đánh Hoa Nam thống nhất sơn hà
Tới đây ta lại là ta
Trang vàng Hùng sử lật ra rạng ngời.
Tính cần kiệm một đời vì nước
Trọng nông tang điền tịch làm gương
Đại Hành danh nổi bốn phương
Mở mang văn hoá, giao thương mọi bề.
Tiếc thay trời chẳng vì nhân thế
Lầm trao ngôi Dạng Đế xa hoa
Bắt dân đào, vét vận hà
Biến Lạc Dương thành một toà Đông Đô.
Vườn Tây Uyển thay hoa bằng lụa
Người kéo thuyền vua chúa dạo sông
Dốc quân tiến đánh Liêu Đông
Sức dân cạn kiệt, lửa hồng bùng lên.

 

 

 

Thịnh Đường

 

Đất Thái Nguyên dựng cờ khởi nghĩa
Đây Lý Uyên cùng Lý Thế Dân
Ra tay sức dẹp phong trần
Xích huyện một mối, châu Thần lại yên.
Cửa Huyền Vũ anh em ân oán
Xứng ngai rồng Trinh Quán đăng quang
Đại Đường đất nước mở mang
Phá quân Đột Quyết, chiêu an Thổ Phồn.
Nguyễn Đạo Thành thỉnh kinh Tam Tạng
Cứu chúng sinh tìm đạo Tây Thiên
Thiện ác ở cõi dương tuyền
Biết đâu là Phật ở miền nhân gian?
Gái hái dâu Ỷ Lan nhiếp chính
Đoạt ngôi Đường xưng Võ Tắc Thiên
Trị nước độc đoán, chuyên quyền
Trọng nhân tài, đãi người hiền, lạ thay!
Chu Hậu mất, Đường triều tái lập
Sùng đạo Nho, phát triển thi ca
Thơ Đường thanh điệu ngân hòa
Đỉnh cao văn hóa nước nhà một chương.
Loạn An Sử từ phương đất Bắc
Nước mắt rơi này lúc biệt ly
Minh Hoàng thương tiếc Quí Phi
Non sông nghiêng ngả cũng vì giai nhân.

 

 

 

Mạt Đường

 

Sông Trường Giang khúc trong khúc đục
Thế triều Đường lúc thịnh lúc suy
Sau loạn giặc giã li bì
Phiên trấn lại nổi đe nguy kinh thành.
Giặc chưa dứt hoạn quan lộng thế
Vua cùng thần lập kế diệt trừ
Cam lộ bày chuyện thực hư
Chút sơ sẩy để thất cơ thiệt đời.
Thời vận mạt xót ngôi thiên tử
Vua không quyền bất quá bù nhìn
Quan lại tranh chấp liên miên
Khắp nơi hỗn loạn, dân đen cơ hàn.
Giận trước cảnh điêu tàn thế sự
Múa thước gươm xung phá Trường An
Hoàng Sào lớn chí to gan
Tiếc thay đại nghiệp mưu toan chẳng thành.

 

 

 

Đại Việt khai quốc

 

Lòng phản trắc nhận danh trung nghĩa
Tướng Chu Ôn phế Lý lập Lương
Suy vi triều chính trung ương
Thi nhau các trấn xưng vương lập quyền.
Từ Tứ Xuyên tới miền Giang Khẩu
Tiền, Hậu Thục, Ngô, Sở, Kinh Nam
Ngô Việt, Mân Việt hai đàng
Vân Nam – Đại Lý, Nam Đường – Giang Tô.
Trên Lưỡng Quảng mở cờ Đại Việt
Lý Công Uẩn chí khí phi thường
Tiếp nối vỹ lược Hưng Vương
Đánh Khúc Thừa Mỹ, thu đường Giao Châu.
Đất La Thành còn lưu dấu vết
Lúc rồng bay dựng nghiệp thiên đô
Thăng Long mãi một cơ đồ
Nghìn thu lồng lộng màu cờ nước Nam.
Thời Tam quốc họ Hùng ba nước
Việt, Lý, Tống chiến cuộc liên miên
Khi Nùng xưng đế Quảng Nguyên
Khi Việt tái chiếm châu Liêm, Ung Thành.

 

 

 

Chống ngoại xâm

 

Giặc Kim Mãn hoành hành phương Bắc
Vó ngựa Nguyên dày xéo giang sơn
Tống hàng, Đại Lý mất luôn
Chỉ còn Đại Việt kiên cường kháng Mông.
Tiếng sát thát Diên Hồng vang tỏa
Mỏi chân bon ngựa đá ba phen
Quê cha đất tổ giữ yên
Chặn quân hung hãn xuống miền phương Nam.
Lửa lại cháy ngút ngàn đất Việt
Lũ giặc Minh tìm diệt văn minh
Đàn áp Làng Cả điêu linh
Tứ đại khí phá tan tành mới cam.
Nhánh tộc La núi Lam khởi nghĩa
Tiếp ý trời Lê Lợi dấy binh
Mười năm kháng chiến chống Minh
Bình Ngô đại cáo yên bình non sông.

 

 

Bụi mờ

 

Trời cao lộng mà không soi tỏ
Lúc triều Lê chép sử nước nhà
Lầm lẫn sử Việt, sử Hoa
Thời Hùng Vương xếp vào là ngoại biên.
Giặc Mãn Thanh tràn miền đất Bắc
Cơn hồng thủy Tứ khố toàn thư
Đốt kinh, cạo sử, thu đồ
Cội nguồn Hoa Việt phủ mờ bụi xanh.
Nay con cháu hùng anh dòng dõi
Hướng về nguồn tìm cõi cha ông
Vạn năm văn hiến hay không?
Lặng im hay kể trống đồng Việt Nam?

 

 

Đoạn kết.

 

Kể chuyện cũ, sử đan huyền thoại
Từ Tiên Nông canh cửi giáo dân
Khai quốc Hùng Vũ đế quân
Tiếp thời Nghiêu Thuấn muôn phần vẻ vang.
Kìa Đại Vũ núi san sông lấp
Kế Lạc Long mở khắp biển Đông
Trường Giang sóng nước mênh mông
Triều Ân Thương cũng là trong Việt Thường.
Ngẫm trời đất tròn vuông hun đúc
An Dương Vương Âu Lạc lập nên
Phong Châu này chốn thần tiên
Đây Chu thiên tử ở miền Văn Lang.
Hồn sông núi nước Nam còn mãi
Để hôm nay ta lại là ta
Xé mây, trời sáng bao la
Anh linh tiên tổ, hùng ca đời đời./.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s