Bức thông điệp ngàn năm


Trống đồng có nhiều hình dạng , nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau,  bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.

Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm .

A / – Tâm trống và vòng đồng tâm số 1 : nhân sinh quan VIỆT

Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng , vòng tròn số 1 là cảnh sống , sinh hoạt của con người .

Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời , mọi kiểu trống  mọi thời đại đều như thế ; điều  này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt  nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt   : Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình .

Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt  hay gọi … “Trời đất ơi.-.cha mẹ ơi.”

Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống , trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm , phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy   đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động …có thần , thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng ,6 hào là hình ảnh tượng trưng của   6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao .

Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính  vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng  vì tổ tiên ông bà ngự  nơi đấy , quẻ Lôi địa Dự viết : ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng …. đã chỉ ra :  anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao …

Cuộc sống miên trường không bao giờ dứt có chăng chỉ là chuyển đổi dạng thức tồn tại từ dương sang âm mà thôi hay nói theo dân gian  là chuyển địa chỉ từ dương trần sang âm phủ .

Cuộc sống vẫn tiếp nối chỉ chuyển dạng tồn tại mà thôi đấy là triết lý về sự sống – chết của người Việt đã được kinh Dịch thể hiện hay nói cách khác : tâm và vòng đồng tâm thứ nhất của mặt trống đồng Ngọc lũ đã thể hiện ‘nhân sinh quan’ của người  Việt . Cuộc sống sinh động nhưng hữu hạn vì có sinh có biến đổi ắt có tử duy nhất chỉ nơi tâm vòng tròn là bất biến nên bất tử , ‘sinh’ là từ cõi Hằng bước sang cõi ‘Biến’ ….qua 1 thời gian dạo chơi trần thế để biết mùi ‘đời’ rồi …. ‘tử ’  tức là trở về nơi đã ra đi , người đời nói  ‘sinh ký tử quy’ nghĩa là vậy  ….nhưng ta phải luôn nhớ không phải ra đi làm sao thì trở về làm vậy ….vì qua thời gian ở cõi ‘biến’ ta đã thành người khác …sáng hơn hay tối hơn là tùy những gì ta đã làm nơi dương trần với tư cách con người có ỵ́ thức và chủ động trong hành vi của mình  … ;

Ngày ….‘ về’  ai cũng đè nặng trên vai 1 bao tải đựng “nghiệp” tức thành tích của mình nơi trần thế  …trình diện các cụ rồi mở bao  ra …. thấy toàn …án tòa và  ‘mail’  nguyền rủa của người đời thì lập tức ….cút xéo… thế là vĩnh viễn trở thành ….kẻ thất sở thân sơ.

Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới , chữ hiếu được nâng hẳn  lên thành 1 tôn giáo : gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà…,

Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người , với quốc gia thì thờ quốc tổ , làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’….trong nhân sinh quan người Việt  thì …qúa khứ -hiện tại – tương lai  sống và chết  là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có  chấm dứt , thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ …. lúc đó ….ăn làm sao nói làm sao ? chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ….công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời ….ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng  được kính trọng ở đời sau và ngược lại  kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời .

B /- Vòng đồng tâm thứ 2 : xướng danh dân tộc  .

Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ con gái Động đình quân, như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG ,  Kinh dương vương nghĩa là vua phương Nam,  Long nữ hay Long mẫu con gái Động đình quân vua phương Đông  , sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo  nên người Việt , cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’ .

Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư .

Trong đồ hình Hà thư . số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam , số 8 nằm  ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm .

Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc .đây chính là từ Lạc trong lạc long quân và Lạc Việt .

Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng ,Hoa ngữ là Long .
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc –Long  là  chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8  theo Hà thư vào thời  Hùng Việt vương –  Tuấn lang .
Mặt trống đồng Ngọc lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 2 bởi nửa vòng tròn  khắc hình 6 con chim và 10con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai . Ở đây tiền nhân người Việt đã  sử dụng những  nút số  của Hà thư , đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 ( số chẵn ) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ .
Các nút trắng – chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen –lẻ được thay thế bằng con nai .
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :

10 con nai và 6 con chim  chỉ người họ Hùng phương nam:con cháu của Kinh dương vương.

10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông .con cháu của Long nữ hay Long mẫu .
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 2 trên  mặt trống đồng chính  là sự tự xưng danh tánh của chủ nhân  trống đồng Ngọc lũ , dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên –Rồng hay Lạc – Long , Tiên – Long . xác lập bởi các cặp số  số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị  hiểu là : người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã  thêm  mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người họ HÙNG  thuộc chi phương Trung-nam và  chi phương Trung-đông .
C /- Vòng đồng tâm thứ 3 : ước vọng Dân tộc trường tồn .
Vòng đồng tâm thứ 3 của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim , mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất ., từng cặp như vậy nói lên   sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì  măng mọc , cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi .
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao ,thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể   , Hà → hạc .
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất , không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể .
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt vương – Tuấn lang chính là Sơn tinh hay Tản viên Sơn thánh quốc chúa đại vương . , ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt .
Sơn tinh cũng là 1 Kinh dương vương ( canh=6 , giêng = 1)  nghĩa là chúa phương nam vì  trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn – núi chỉ phương nam .
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 2 mặt trống đồng Ngọc lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại  Hùng Việt vương – Tuấn lang ?.( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây .
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc lũ là loài chim DIỆC .
DIỆC  là  phát  âm của  người nam bộ , âm bắc là VIỆT .chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt vương – Tuấn lang ?.
Số 9  là cửu , cửu cũng có nghĩa là lâu dài , 18 là trùng cửu  ( 9×2 ) đồng âm với trường cửu .nghĩa là mãi mãi bất tận ., điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng   hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này  như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết , bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài…vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức , tài hiểu là tấn tài tấn lộc  nghĩa là chúc có thêm tiền ….
-Chim diệc đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian ..
-Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp  kế thừa .
-18 cặp là Trùng cửu  ( 2 lần 9 ) cũng là trường cửu .
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn  ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :
“ DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI  ”
Tới đây thì  ta hiểu  rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa ( Mã Diện hay Viện  ) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt .; ý đồ của chúng là  biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện  trường tồn của dân tộc này …nhưng trời xanh có mắt…

Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
–         ‘con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử , một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’  bằng ngôn ngữ Dịch học  đã phổ biến – lưu truyền 3000 năm nay .
–          Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của  1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử , chỉ cần minh xác được 1 đọan trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng gía  về  tính xác thực của cả hệ thống   truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền. .
–         Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này , những trống đồng cổ nhất  có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn -rõ ràng nhất giúp khẳng định : Dịch lý là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..

Văn Nhân viết thêm
Nhà nghiên cứu văn hóa VIÊN NHƯ đã nhận ra :
Trên mặt trống đồng ở vòng số 2 lưỡng Nghi – tam Tài  thể hiện trục Bắc – Nam bằng cặp số 6 – 7 của Hà thư (đồ) ,  hình thức biểu hiện là hình khắc 6 người và 7 người .
Hết sức cám ơn tác gỉa về phát hiện này vì đã giúp khẳng định sự liên quan giữa trống đồng và Dịch học tức xác định quê hương của Dịch học và rộng ra là cả nền văn minh phương Đông .

Advertisements

2 comments

  1. Kính nhà nghiên cứu Văn Nhân.
    Ở trên Văn Nhân có đề cập tới Viên Như, thông tin đó nằm trong cuốn sách củ, quá sơ sài, Viên Như có viết lại cuốn mới với nội dung phong phú hơn, trong đó có Hà đồ và Lạc thư trên mặt trống đồng Ngọc Lũ một cách chi tiết, từ đó căn cứ các hính vẽ trên mặt trống viết thành lịch Kiến Tý, tức là giải mã câu “1 chạp giêng 2” mà người xưa đã đúc kết. Đồng thời cũng qua mặt trống, Viên Như đã tìm ra công thức tính ra hậu thiên bát quái một cách khoa học, chứ không phải suy diễn bừa bãi, cái này tổ tiên ta đã làm ra cách đây 6000 năm tại Dương Tử, cụ thể tại tỉnh Hồ Nam TQ ngày nay. Muốn liên lạc với Văn Nhân để gởi tham khảo và thêm ý kiến.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s