Kinh đô nước Hùng Việt xưa – 1


Hùng Vũ vương – Hiền lang là thủy tổ kiến lập nước Hùng Việt , người Việt Nam gọi là quốc tổ Hùng vương , Vũ là đọc theo Đường âm , âm Nôm là Vua ,trong nền văn minh Hùng – Việt vũ – vua là từ cực trọng chỉ dùng cho vì vương kiến quốc hay khai sáng triều đại .

*Khung giang – Động đình hồ miền đất tổ .
Hùng Vũ vương – Hiền lang được gọi là đế Minh trong truyền thuyết Việt ,truyền thuyết Trung hoa gọi là là đế Hoàng (hoàng lả màu Vàng) thủy tổ kiến lập Hữu Hùng quốc tức ‘quốc gia cuả người họ Hùng’ . bộ tộc của đế Hoàng trước sống ở lưu vực sông Khang sau dời đến sông Cơ , về sau Cơ thành họ của đế Hoàng . Hùng vương là chúa Hùng quốc nói chung và đế Hoàng – đế Minh chính là Hùng Vũ vương tức quốc tổ Hùng vương của người Việt . Sông Khang người Việt gọi là sông Khung (Đại Nam nhất thống chí) và Cơ chỉ là tên chữ của Cao – Cả theo âm Nôm chỉ bậc quyền cao chức trọng tức thủ lãnh , sông Cơ chính là sông Cả ở đồng bằng Thanh Nghệ Tĩnh Việt Nam ngày nay, sông Cả cũng là sông Lam chính xác là sông Lang nghĩa là sông sông vua sông chúa tương tự người Lào gọi là Nậm Khan cũng nghĩa như vậy (khan là từ gốc Mông cổ nghĩa là chúa) .

*Ngàn hống – Hồng lĩnh .
Truyền thuyết Việt chép : Hùng vương quốc tổ tức Hùng Vũ lập kinh đô Ngàn Hống ở chân núi Hồng lĩnh vùng Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay , sau vua tuần du trên biển đến vùng Động đình hồ lên bờ xem phong cảnh và chọn được thế đất đẹp …Nghìn non nâng chủ, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về ngọn tổ sơn Nghĩa Lĩnh. Thu tận hình thế, vua nhận ra thế cục của đất này quý đẹp hơn đô thành cũ ở Hoan Châu, bèn lập Chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh để thỉnh thoảng ngự giá đến nghỉ.
(Trích Ngọc phả, GS Ngô Đức Thọ dịch, trang 3a, 3b)
..như vậy Việc dựng đô thành của vua Hùng quốc tổ trước ở núi Thứu Lĩnh hay Hồng lĩnh xứ Nghệ sau lại dựng ở núi Nghĩa Lĩnh nay thuộc Phú thọ .Tương truyền Nghĩa Lĩnh là đô ấp của nước Việt Thường .Nghĩa lĩnh rất có thể chỉ là biến âm của Ngũ lĩnh theo như truyền thuyết …đế Minh đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ lĩnh kết duyên với Tiên sinh ra Lộc tục – Lạc tộc …
Cũng Theo truyền thuyết Việt thì đế Minh sau trở về kinh đô Ngàn Hống và truyền ngôi đế cho con cả là đế Nghi , đế Nghi đặt tên nước là Xích qủy và định đô ở Nghĩa lĩnh . Sử thuyết Hùng Việt đã hiệu chỉnh …Xích qủy thiết Thủy , thủy tức nước – nác – Lạc – Lục – Lộc , lịch sử không hề có nước Xích qủy chỉ có quốc gia ‘Nước’ , tức quốc gia thuộc hành Thủy phương Nam xưa (nay Nam – Bắc đã lộn ngược) cũng gọi là nước Việt Thường . Từ Nước là tên quốc gia nay Việt ngữ biến thành từ chung đồng nghĩa với quốc gia .

*Nghĩa lĩnh.
Cổ thư Trung hoa viết …khởi thủy Thiên hạ có đất Đào và đất Đường , Sử thuyết Hùng Việt cho đất Đào là Hồng lĩnh và đất Đường chính là Việt Thường trong truyền thuyết . đế Nghi của người Việt cũng là đế Đường Nghiêu trong cổ sử Trung hoa , thông tin đế Nghiêu có tên là ông ‘Giao Thường’ giúp củng cố thêm cho luận điểm này , Giao chỉ là tên cũ của miền bắc và Bắc trung Việt đã được công nhận rộng rãi hầu như không phải bàn cãi gì nữa và cổ sử Trung hoa không nói đến 1 đất Giao nào khác nên Giao Thường chỉ có thể hiểu là phần đất Giao chỉ phía Nam xưa tức đất Đường hay Việt thường . phần Giao chỉ phía Bắc xưa là đất Đào nơi có rặng ̀ Hồng lĩnh .
Xét tới đây đã xác định được kinh đô Thiên hạ thời Hùng Vũ vương tức đế Minh hay đế Hoàng trước là Ngàn Hống dưới chân rặng Hồng lĩnh sau là Nghĩa lĩnh , thời đế Nghi – Đường Nghiêu là kinh đô Nghĩa lĩnh dưới chân rặng Nghĩa lĩnh hay Ngũ lĩnh Phú thọ ngày nay . Tư liệu Trung hoa chép kinh đô thời đế Đường Nghiêu là Bình Dương nay không biết ở đâu .

*Bồ bản.
Đế Đường Nghiêu mất đế Ngu Thuấn thay , tư liệu viết kinh đô triều Ngu Thuấn là Bồ Bản , bồ là lớn và bản là bản làng thực ra bồ bản hay làng Cả hay đại ấp là những từ chung nghĩa là thủ đô không phải tên riêng . Sử thuyết Hùng Việt dựa vào tên Ngu Thuấn mà đoán định có thể Bồ bản nằm ở Ngô châu Quảng Tây ngày nay, từ Ngô châu đế Ngu Thuấn tuần du phương Nam xưa đến miền sông Tương – Hồ Nam thì mất ,2 bà vợ là Nga Hoàng và Nữ Anh công chúa con vua Nghiêu cũng trầm mình chết theo chồng để lại cho đời biết bao thương cảm .

*Bình dương.
Đế Ngu Thuấn truyền ngôi cho Đại Vũ – vua lớn , Kinh đô thời Đại Vũ đích xác ở đâu thì không thể xác định , dấu tích triều vua Lớn hiện nhận biết là thác Vạn Bờ hay Vạn Pha nơi ông Vũ đục bạt 1 phần ngọn Long môn sơn cho nước thóat chày hoàn tất việc trị thủy .
Ở Việt nam cổ tích cá vượt Vũ môn hoá rồng từ lâu đã in đậm trong văn hóa dân gian , Đại Nam nhất thống chí viết : tỉnh Hưng Hóa có ghi rõ về núi Long Môn có tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội…
Nhiều học gỉa Việt Nam và Trung quốc dẫn Kinh Thư : Vua Vũ “dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy chảy vào biển” và xác định Hắc th̉uy là sông Đà , nơi vua đại Vũ đục bạt cả nửa ngọn Long môn sơn để khai thông dòng chảy gọi là Vũ môn nay là Thác Bờ .
Truyền thuyết Việt gọi Đại Vũ là Tản viên Sơn thánh quốc chúa đại vương .
Hắc thủy là sông Đà , Vũ môn là thác Bờ thì đế đô Bình dương của Đại Vũ chắc không nằm ngoài vùng núi Tản sông Đà ở Tây Bắc Việt Nam ngày nay .

*An ấp – Dương thành.
Đại Vũ mất con là đế Khải kế ngôi , đế Khải đày ‘Hữu Hổ thị’ đi 4 phương gọi là Tứ Di lấy đất của họ xây An ấp kinh đô đầu của nhà Hạ , không phải ông Vũ mà đế Khải mới là Hạ Vũ người khai sinh vương triều triều Hạ , Đại Vũ là người kiến lập vương quốc Thiên hạ như thế trở thành vương tổ chung của mọi triều đại không phải riêng nhà Hạ .
Sử thuyết Hùng Việt cho An – Lạc là tên gọi 2 chi tộc thủy tổ dân Thiên hạ sống trên đất Đào và Đất Đừơng hay Thường , Sau Hoa ngữ biến An – Lạc thành Ân – Lục tức số 2 và số 6 hai Dịch tượng chỉ Bắc – Nam xưa trong Hà Thư , người Việt biến An thành ôn – ấm chỉ phía nóng Xích đạo màu đỏ, Lạc thành nác – nước màu Đen chỉ phía Nam xưa Bắc nay . Xét ra như thế 2 cựu đô An ấp thời Hạ và Lạc ấp thời Châu không thể nằm ngoài đất Giao chỉ .
Sau thời gian bị Hậu Nghệ và Hàn Trác tiếm ngôi , nhà Hạ trung hưng với đế đô là Dương thành , Dương thành còn nguyên ờ Quảng Châu ngày nay và là nơi quần tụ người Hẹ . Dương thành nay là thành cổ Dương thành Quảng châu , người Hẹ và người Hạ là một , dù có thông tin đích xác như thế người ta vẫn không dám nghĩ đấy là dấu tích còn lại của nhà Hạ thời trung hưng 4000 năm trước . vì hoàn toàn khác với thông tin viết trong sử Trung quốc nòi Mongoloid đang lưu hành .

Xin thêm ý,
Theo suy nghĩ của tôi thì Làng Cả có thể là 1 phần của kinh đô Phong châu nước Văn lang thuở ban đầu mới lập quốc , về niên đại có thể lên đến 1000 năm trước CN tức xa hơn niên đại ước tính hiện nay 300 năm .
Người Kinh và có thể cả người Mường còn được gọi là người Keo , theo tôi Keo là biến âm của Cao , nước Cao người Cao được tư liêu chuyển ngữ thành Sùng (sùng nghĩa là cao) là nước mà vua Thành Thang tổ nhà Thương phong cho con trai thứ , nước Cao – Sùng có Ngũ vị Tôn ông tức 5 đời chúa : Sùng nghiêm – Sùng Tôn – Sùng Huề – Sùng Quyền và Sùng Cầm , vị chúa cuối cùng đời Sùng Cầm được tư liệu Việt gọi là Sùng Lãm tước Bắc bá hầu , Sử Trung hoa gọi Sùng Lãm là Sùng hầu Hổ , ông Cơ Xương tổ nhà Châu đã kết hợp 2 vùng đất của Tây bá hầu và Bắc bá hầu thành lãnh thổ nước Văn lang , truyền thuyết Việt chép thành cổ tích … Lạc long quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra trăm trứng …sau tạo thành Bách Việt phản ánh việc vua Châu phong tước kiến địa tạo ra trăm nước chư hầu .
Căn cứ vào việc tìm được nhiều nha chương biểu tượng của văn hóa nhà Thương và Thương Ân thì xóm Rền có thể chính là kinh đô nước Cao – Sùng trong thời nhà Thương .

Advertisements