Xem lại 1 đoạn Việt sử .


Năm 571, Lý Phật Tử đem quân đánh Triệu Việt Vương. Bị đánh bất ngờ, Triệu Việt Vương không thể chống được cưỡi ngựa chạy đến cửa biển Đại Nha, nhảy xuống biển tự vẫn .
Lý Phật Tử cháu của Lí Bôn lên làm vua , đóng đô ở Phong Châu. Vì ông cũng xưng là Lý Nam Đế, nên đời sau gọi là Hậu Lý Nam Đế .
Sừ thuyết Hùng Việt cho Lí Bôn hiệu là Lí Nam đế theo nghĩa vua họ Lí của Nam Việt . Lí Phật tử cũng đọc là Lí Bụt tử , theo phép phiên thiết ‘bụt tử thiết bự’, Lí Phật tử chính là Lí Bự , tư liệu Trung quốc ấm ớ Lí Bự thành ra …Lưu Bị .
Ở Trung quốc nhà Tùy đã diệt nhà Trần (con cháu Trần Bá Tiên) thống nhất toàn quốc năm ̀́581.
Theo sử hiện nay Năm 602 nhà Tùy phong tướng Lưu Phương làm ‘Hành quân tổng quản đạo Giao Châu’, đem quân đánh hậu Lí Nam đế , Lưu Phương bày lẽ thiệt hơn khiến Lí Phật tử hàng nhà Tùy và bị bắt đem về Trung quốc .
Tháng giêng năm Đại Nghiệp thứ 1 (605), cuộc xâm lược Vạn Xuân mới hoàn tất thì Văn Đế chết, Dạng Đế lên ngôi, các quan nhà Tùy bảo nước Lâm Ấp có nhiều của báu lạ. Dạng Đế bèn phong cho Phương làm ‘Hành quân tổng quản đạo Hoan châu’ tiến quân đánh Lâm ấp . Vua Lâm ấp là Phạm Chí bỏ thành, chạy ra phía biển. Lưu Phương vào thành lấy được 18 cái thần chủ thờ ở miếu. Những thần chủ ấy đều đúc bằng vàng, sử viết Lưu Phương vơ vét xong khắc đá ghi công rồi rút về về ???.. ( đoạn sử này phải xem sét lại chứ …làm gì có chuyện bỏ bao nhiêu công sức bao nhiêu xương máu đánh chiếm Lâm ấp rồi rút về ?).
Năm 2004 ở Bắc Ninh đã đào được Bia “Xá Lợi Tháp Minh” là bia đá có niên đại cổ nhất được tìm thấy tại Việt Nam, bia khắc năm 601 niên hiệu Nhân Thọ đời Tùy Văn Đế ghi chép về sự kiện Tùy Văn đế Dương Kiên cho rước Xá Lợi đến các châu để cung phụng, ở Giao Châu thì Xá Lợi được đem đến chùa Thiền Chúng (tức Chùa Pháp Vân, Chùa Dâu) trung tâm Phật giáo nổi tiếng nhất khi đó.
Có lầm lẫn gì ở đây không ? , Làm sao Tùy Văn đế có thể đem Xá lợi Phật đến chùa Thiền chúng Bắc Ninh năm 601 được vì như sách sử chép thì mãi năm 605 cuộc xâm lược Vạn Xuân của nhà Tùy mới hoàn tất ?. Chiếm đóng rồi bình ổn cuộc sống của dân chúng để có thể tính đến sinh hoaṣt văn hóa tâm linh ít ra cũng cần đến cả chục năm .
Giới nghiên cứu khoa học đã kết luận khẳng định :
Sự thống nhất trong nội dung minh văn với các tấm bia tìm được tại Trung Quốc cũng như sự trùng khớp thông tin (ngày 15 tháng 10 năm 601, xây tháp tại chùa Thiền Chúng ở Giao Châu) với các tư liệu khác như “Quảng hoằng minh tập” và “Cảm ứng lục” có thể khẳng định: Tấm bia vừa được tìm thấy tại Bắc Ninh chính là minh văn “Nhân Thọ xá lợi tháp” được khắc cùng với sự kiện xây dựng chùa Thiền chúng .
Từ việc bất hợp lí về mặt thời gian này xem lại sách sứ không khỏi giật mình; thông tin lịch sử giai đoạn này sai biệt còn lớn hơn thế nhiều .
Tư liệu chép : Năm 583, Tùy Văn Đế chia lãnh thổ Việt nam khi đó thành 6 châu : Giao châu , Hưng châu năm 598 đổi là Phong châu, , Hoàng châu năm 598 đổi là Ngọc châu, , Ái châu, Đức châu năm 598 đổi là Hoan châu và Lợi châu năm 598 đổi là Trí châu.
Vị trí 6 châu trên bản đồ ngày nay , rộng hẹp ra sao thì còn nhiều điều chưa rõ dù 1 số nhà nghiên cứu đã đưa ra chỉ định khá chi tiết nhưng tất cả vẫn trong vòng suy đóan chưa lấy gì làm chắc chắn.
20 năm trước Giao châu đã là châu quận của nhà Tùy thì làm gì còn chỗ cho Lưu Phương năm 602 tiến đánh và giỗ hàng Lí Phật tử sau đó kéo quân sang cướp của ở Lâm ấp ?.
Sử thuyết Hùng Việt cho thời gian này lịch sử Việt chẳng hề có triều đại nào là hậu Lí Nam đế , Lí Bôn sừ Tàu chép thành Lưu Bang chính là Lí Nam đế tức vua họ Lí của Nam Việt , Lưu Biểu và Lưu Bị thời Tam quốc chép trong sừ Trung quốc do sự sai lầm của giới sử học Việt nam trước đây khi tiếp nhận và phân tích thông tin chứa trong tư liệu đã biến thành̀ Lí Thiên Bảo và Lí Bự – Lí Bụt Tử trong sử Việt Nam .
Thông tin ghi nhận rất đặc biệt ở tư liệu đã kể :
Khi tiến đánh Bắc Việt ngày nay thì nhà Tùy phong Lưu Phương làm :‘Hành quân tổng quản đạo Giao Châu’,và khi tiến công Lâm ấp thì Lưu Phương được phong là ‘Hành quân tổng quản đạo Hoan Châu’,
Thời Tùy : Giao châu là đất đồng bằng Bắc bộ và Hoan châu là vùng Nghệ tĩnh vẫn thường gọi là xứ Nghệ ..
Phải chăng sự phân chia này là do ảnh hưởng của đất Đào và Đất Đường hay Thường từ thời tạo dựng Thiên hạ , Sử thuyết Hùng Việt cho đất Đào là đất của tộc La và Đường – Thường của tộc Canh – Kinh . La – Canh là tên gọi cực Bắc và Nam của La bàn Phong thủy .
Đường Thái Tông nhà Đường sau khi đánh Nam dẹp Bắc đã lập ra nhiều đô hộ phủ và châu mới ; An Tây đô hộ phủ (năm 640), An Bắc đô hộ phủ (năm 647), Thiền Vu đô hộ phủ (năm 650) và An Đông đô hộ phủ (năm 668) . Những Đô hộ phủ này được lập ra để cai quản vùng đất thường là ngoại tộc mới bình định , đặc biệt cùng thời Đường thái Tông không lập An Nam đô hộ phủ mà lập ra ‘La phục châu’ với trung tâm là vùng Hà tĩnh ngày nay .
Về ý nghĩa danh xưng ‘La phục châu’ nghĩa là châu của người tộc La đã quy phục Đường triều ? . Phải chăng trên mặt trận chữ nghĩa sau vài lần ‘ai đó’xuất chiêu thì ‘la phục’ biến thành ‘lộc phúc’ rồi sau cùng hoá ta Phúc lộc châu ở Hà Tĩnh ngày nay ?. Chính kiểu cách biến hóa như thế này của thông tin đã khiến lịch sử Việt Nam rối tinh rối mù lên như ngày nay . .
Có nhà sử học viết :
….đến năm 622, Khâu hoà là Giao châu đại tổng quản của nhà Tùy trước xin quy thuận triều Đường và được bổ nhiệm ngay làm Đại Tổng Quản Giao Châu
Năm 622, nhà Đường bắt đầu phân chia lãnh thổ Việt Nam ra thành nhiều châu nhỏ dưới quyền kiểm soát của hai Tổng Quản Phủ. Tổng Quản Phủ quan trọng thứ nhất được đặt ở vùng phụ cận Hà Nội bây giờ với quyền hành bao trùm 12 châu (Giao, Phong, Chi, Ái, Hoan, Diễn, Trường, Lục, Thang, Võ An, Võ Nga, và Phúc Lộc) gồm 59 huyện trong đồng bằng sông Hồng và sông Mã.
Tổng Quản Phủ quan trọng thứ hai được đặt ở đồng bằng sông Cả với quyền hành bao gồm các châu ở vùng biên giới cực nam….
Giới Sử học cũng nhìn nhận thời Đường trên lãnh thổ Việt nhà Đường đặt 2 phủ tổng quản 1 ở thành Tống Bình quản lí đất từ Thanh hóa đổ ra Bắc và 1 ở Hoan châu quản vùng đất từ xứ Nghệ đổ vào Nam (nay) . Năm 628, các Tổng Quản Phủ được đổi thành Đô Đốc Phủ dưới quyền quan Đô Đốc, về sau ở những vùng trọng yếu cần hành động nhanh chóng các đô đốc được vua ban ‘cờ tiết’để toàn quyền hành động gọi là Tiết độ sứ . Tư liệu cũng ghi nhận ở Giao chỉ có 2 đô đốc phủ là Giao châu đô đốc phủ và Hoan châu đô đốc phủ .
Sách sử ngày nay viết …năm 679. Đường Cao Tông đổi Giao châu thành An Nam Đô Hộ Phủ , đoạn văn này thật … ông chằng bà chuộc , làm sao có thể đổi Giao châu 1 vùng đất thành ra phủ đô hộ An Nam là 1 cơ quan được , phải chăng ý nói đổi Giao châu đô đốc phủ thành An Nam đô hộ phủ .sau theo lời tấu của Cao biền nhà Đường đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh hải quân .lại 1 sai lầm nữa An Nam đô hộ phủ là 1 cơ quan sao có thề đổi thành 1 vùng lãnh thổ hành chánh nội thuộc là Tĩnh hài quân ? , chuyện lạ khác nữa ̣… bỗng nhiên phủ đô đốc Hoan châu biến đi đâu mất không còn tăm hơi gì cả ….
Tư liệu lịch sử cho thấy rất rõ không hề có việc đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh hải quân vì từ thời Đinh lịch sử đã ghi nhân 2 chức vụ khác nhau là Tĩnh hải quân tiết độ sứ và An Nam đô hộ .
Sai lầm dắt giây sai lầm đưa đến …thời Tống đã bỏ 2 chức Tĩnh hải quân tiết độ sứ và quan đô hộ An Nam nhập thành An Nam quốc vương …, , sự việc đã khiến lịch sử Việt Nam biến đổi .ta thành người khác mất liên lạc hoàn toàn với qúa khứ tiền nhân .
Sử thuyết Hùng Việt cho không hề có việc đổi phủ đô đốc Giao châu thành Phủ đô hộ An Nam và cũng chẳng có việc đổi An Nam đô hô phủ thành tí̃nh hải quân như sách sử hiện nay viết . Sự thực và hợp lí ra thì đất Giao châu dưới quyền Giao châu đô đốc phủ đã được nhà Đường đổi thành Tĩnh hải quân do Tĩnh hải quân tiết độ sứ cai quản và đất Hoan châu tức La phục châu trước được đổi thành vùng đất dưới quyền cai quản của phủ đô hộ An Nam trong đó có 24 châu KIMỈ ở phía Nam Hoan châu tức các địa khu của nước Chiêm Thành về sau (42-18 châu thuộc Phong châu đô hộ phủ) .
Ngay từ thời Tùy Sử sách đã ghi nhận :
Đô đốc của Giao Châu đóng bản dinh ở Tống Bình gần Hà nội ngay nay với quyền hành bao trùm khắp miền biên giới …nguyên văn :
“để kiểm soát bọn man di từ tất cả những tiểu quốc phía nam, phía tây Giao Châu, và những cư dân trên các hòn đảo ở ngoài biển lớn… “
Sang thời Đường quyền hành này được phân bổ về 2 đô đốc phủ Giao châu và Hoan châu , các tiểu quốc phía Tây chính là 18 châu KIMI thuộc Phong châu đô hộ phủ và các tiểu quốc phía Nam là 24 châu KIMI trực .thuộc An Nam đô hộ phủ .
Ki Mi chính xác phải là Cơ – Mơi hay Mai , Cơ chỉ người tên khoa học là Indonesien và Mi là người Nam Á là 2 sắc tộc chính của dân Đông nam Á ngày nay . Cơ cũng chính là tên họ của Hoàng đế – đế Hoàng và các vua nhà Châu . Mi hay Mị là tên họ của các vua nước Sở . Các châu KIMI thuộc Phong châu đô hộ phủ sau li khai nhà Đường lập ra nước Nam Chiếu hay Nam chúa .
Tóm lại :
*An Nam đô hộ phủ không mang ý nghĩa là vùng đất ngoại tộc nhà Đường mới bình định xong giống như trong An Bắc An Tây An Đông đô hộ phủ ,̀ thời gian này tư liệu ghi nhận ở phía Nam Đường thái Tông cho lập La phục châu không phải 1 đô hộ phủ , còn ở năm 969 lập ra An nam đô hộ phủ thì chẳng có cuộc chiến nào giữa quân Đường và người địa phương để cho 2 từ An Nam trở nên có ý nghĩa .
* Danh xưng An Nam không dính gì đến 1 phương Nam đã bình định mà là tên gọi vùng đất từ Hoan châu đổ xuống phía Nam dưới sự cai quản của trước là Hoan châu đô đốc phủ sau đổi thành An Nam đô hộ phủ , là vùng đất hoàn toàn khác với Giao châu dưới sự cai quản của phủ đô đốc Giao châu sau đổi thành Tĩnh Hải quân đất nội thuộc Đường triều .
Sử thuyết Hùng Việt cho từ An là giản lược của An Chiêm cách gọi khác của Chiêm thành và Nam cũng chính là Phù Nam tức nước Pham hay Phan (phù nam thiết phan) mà ranh giới còn ghi trên bản đồ là từ Phan rang tức Phan ranh trở vào Nam .
* Từ đời Tống , các vua Trung nguyên về mặt ngoại giao luôn giao cho qúy tộc tước Giao chỉ quận vương (trong hàng ngũ qúi tộc quận vương thấp hơn tước vương) kiêm lãnh 2 chức vụ : vừa là Tĩnh hải quân tiết độ sứ vừa là quan đô hộ An Nam . năm 1136 thì vua Tống gộp 2 chức Tĩnh hải quân tiết độ sứ và quan đô hộ An Nam thành ra chức tước hoàn toàn mới :An Nam quốc vương ý nóì từ nay trên 2 vùng đất này là 1 nước độc lập tuy trên nguyên tắc vẫn thống thuộc vào ‘hệ thống chính trị’ Thiên hạ do vua Trung quốc làm Thiên tử .Trong cái hệ thống cổ hũ bề ngoài này Thiên tử đóng vai trò Minh chủ tượng trưng , còn quan hệ thực sự giữa các bên tùy vào thực lực từng thời điểm , Chư hầu ‘cống’ thiên tử , thiên tử ‘ban’ lại cho chư hầu …có khi lại qủa ít qúa chư hầu không bằng lòng đòi thêm , không đáp ứng… là Thiên tử coi chừng vỡ mặt , thế đấy nhưng giấy rách cứ vẫn phải giữ lấy lề…đôi lúc thấy thật tội nghiệp cho Thiên tử …
Xét ra chưa cần truy đến tận nguồn gốc thời thái cổ chỉ kể từ năm 975 thì giải đất suốt từ phía trên Ải Nam quan đến ngoài mũi Cà mau đã chỉ do 1 qúi tộc cai quản dưới 2 chức vụ khác nhau và từ năm 1136 thì trở thành lãnh thổ thống nhất của 1 vua , dĩ nhiên lịch sử luôn có biến động , nước nào cũng thế ; hợp rồi tan , tan rồi hợp là chuyện rất bình thường bao đời nay, Những kẻ thương vay khóc mướn dốt sử thôi đừng rống lên …hận đồ bàn nữa , Phan rang là đất của Phù nam vua Chiêm thành mới đánh chiếm , người Phan rang khóc hận đồ bàn thì chẳng khác nào người Trung hoa khóc thương Thành cát tư hãn .
Xin lưu ý về thể chế thì Quân (Tĩnh hải quân) là đơn vị hành chánh nội thuộc Trung quốc vì thế nhà Tống không đành lòng đưa từ ‘Giao’ hay Tĩnh Hải vào quốc hiệu của quốc gia tân lập mà họ công nhận , Tống chỉ gọi tên là An Nam quốc dựa theo tên 1 nửa đất tự trị ngoại thuộc có từ đời Đường ,
Xét  riêng kỉ nguyên Đại Việt thực chất nước Việt đã độc lập từ khi kiến lập nước Đại Việt năm 917 thù đô là thành Phiên Ngung hay Phiên Ngô nhưng từ khi mất Phiên Ngung phải dời đô về phía Tây  về hình thức thì nước Việt chỉ có thể xem là quốc gia độc lập thực sự kể từ năm 1136 về sau .

Advertisements