Nươc Lâm ấp của người Mường


Năm 280 quân Tấn chiếm kinh đô Kiến Nghiệp, bắt sống vua Đông Ngô là Tôn Hạo.
Đào Hoàng là quan đầu mục của Đông Ngô coi giữ Giao châu , địch chưa đánh tới đã hàng sai sứ đưa ấn tín về Lạc Dương xin đầu phục , vua Tấn ban cho tước Uyển Lăng hầu và giữ nguyên chức cai trị Giao châu như cũ .
Sau khi diệt được Ngô, nhà Tấn định giảm quân ở các châu, quận Đào Hoàng dâng sớ lên vua Tấn nói:
…Giao Châu khuất nẻo riêng một miền, chen vào giữa núi và biển, ngoài cách với Lâm-Ấp chỉ có bảy trăm dặm. Tướng Mường là Phạm Hùng mấy đời làm giặc lẩn lút, thường cướp phá trăm họ. Lại kết liên với Phù – Nam, hăng vào quấy rối: nào đánh phá quận – huyện; nào giết hại quan, dân… Tôi khi xưa được nước cũ kén dùng, đóng quân ở miền Nam có hơn mười năm. Tuy trước sau đánh dẹp, giết được bọn Cừ Khôi nhưng trong núi, thẳm, hang cùng, vẫn còn có những quân nấp-náu. Vả lại đám quân của tôi coi, vốn có hơn tám nghìn người. Đất miền Nam nóng ẩm, phần nhiều có khí-độc. Lại thêm liên năm đánh dẹp, chết mòn mãi đi, hiện nay còn có hai nghìn bốn trăm hai mươi người. Nay bốn biển hỗn-đồng, không đâu là không thần phục. Cố-nhiên nên cuốn giáp, bỏ gươm chăm về lễ, nghĩa. Nhưng người trong châu này, chán chuyện yên vui thích gây họa-loạn! Lại bờ biển phía nam Quảng-Châu vòng quanh hơn sáu nghìn dặm, không chịu tòng-phục đến hơn năm vạn nhà! Cùng với những bọn bất-kham ở Quế Lâm cũng đến vạn nhà nữa! Đến như bọn chịu gánh vác việc quan, chỉ có hơn năm nghìn nhà. Môi răng của hai châu, vững được chỉ trông nhờ quân lính. Lại Ninh Châu. Hưng Cổ, tiếp giữ thượng lưu, cách quận Giao-Chỉ nghìn sáu trăm dậm. Đường thủy, đường bộ đều thông. Giữ gìn lẫn cho nhau. Quân trong châu chưa nên rút bớt, để tỏ ra vẻ mảnh rẻ, trống rỗng….
Trong bản tấu bỏ qua những con số vớ vẩn vốn có trong sử Trung quốc như 2420 lính của Đào Hoàng giữ Giao châu …?có thể thu được nhiều thông tin về địa giới Giao châu thời Tấn và trước đó :
Giao châu 1 mặt giáp Lâm Ấp , mặt giáp Quế Lâm và mặt còn lại là…bờ biển phía nam Quảng-Châu vòng quanh hơn sáu nghìn dặm,
Như thế chính xác Giao châu gồm Bắc Việt và Quàng Đông ngày nay nằm giữa 2 quận đời Tần là Quế lâm là Qúy châu – Bắc Quảng Tây , Tượng quận ở Vân Nam , 1 mặt giáp Biển và phần còn lại giáp với đất Mường của Phạm Hùng ở phía Tây và Nam .

Bản sớ của Đào Hoàng cũng cho thấy tình hình Giao châu như thùng thuốc súng trừ 1 số rất ít còn lại hầu hết người dân vùng Lĩnh Nam phản kháng chống lại sự cai trị của Tấn quốc …luôn muốn làm loạn , sự thể chỉ ra nước Tấn là ngoại tộc chiếm đóng không phải là 1 giống 1 dòng với người Giao châu .
Chi tiết lạ lùng nhất trong bản tấu là ..Giao Châu khuất nẻo riêng một miền, chen vào giữa núi và biển, ngoài cách với Lâm-Ấp chỉ có bảy trăm dặm. Tướng Mường là Phạm Hùng mấy đời làm giặc lẩn lút, thường cướp phá trăm họ. Lại kết liên với Phù – Nam,
Rất rõ ràng Lâm Ấp là nước của người Mường và để liên kết được với Phù Nam thì Lãnh thổ Lâm ấp thời Phạm Hùng lãnh đạo phải bao trùm cả miền trung Việt Nam ngày nay . Đọc sử của Tàu thực không thể hiểu tại sao 1 nước trước là Lâm ấp của người Mường sau lại biến thành nước Chiêm thành của người Chăm .
Lịch sử Việt còn có vua Lê Lợi nổi lên ở vùng Cầm châu đất Lào phía Tây Thanh hóa là người Mường …chính gốc nhưng tư liệu không hiểu sao lại gọi là ông đạo Chăm , khởi nghĩa ở vùng núi Chăm tên ‘chữ’ là Lam sơn ? . Liệu Mường và Chăm là 1 dân tốc 2 tên gọi ?.
Theo tư liệu thì sự kiện Khu Liên – Khu Đạt kiến lập nước Lâm Ấp đi liền với cuộc nổi dậy của bà Triệu nhưng sao thông tin ‘lịch sử’ lại ông chằng bà chuộc … khởi nghĩa anh em Triệu thị Trinh và Triệu quốc Đạt chống quân Ngô diễn ra năm 248 nhưng Khu Liên người nước Nam ta lại lập ra nước Lâm ấp năm 192 tức trước bà Triệu hơn nửa thế kỉ , có tư liệu còn nêu ra mốc xa hơn nữa mãi tận năm 137-138 .
Trong 1 số tác phẩm có phần liên quan đến Việt sử giai đoạn này càng khiến rối càng thêm rối :
“Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca” có câu:

“Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Sơn thôn mấy cõi, chiến trường xông pha

nhiều tư liệu viết Bà Triệu khi ra trận mặc áo giáp vàng (màu).
Cờ vàng Giáp vàng chứng tỏ anh em bà Triệu là ‘ giặc’ Hoàng cân nổi dậy chống Đông Hán

Lại thêm Thiên Nam ngữ lục viết về bà Triệu:

Cửu Chân có một nữ nhi
Lẩn thẩn qua kì, tuổi ngoại hai mươi
Chồng con chưa có được nơi
Cao trong tám thước rộng ngoài mười gang
Uy nghi diện mạo đoan trang
Đi đường chớp thét, đồng đường sấm vang
Mặt như vầng nguyệt mới lên
Mắt sáng như đèn má tựa lan gioi
Vú dài ba thước lôi thôi
Ngồi chấm đến đùi, cúi rủ đến chân
Sức quảy được vạc nghìn cân
Chẳng hiềm Mã Viện, hơn phân Lí Thù…

bài thơ Nôm về Bà Triệu trong Hồng Đức quốc âm thi tập thế kỷ XV lại có câu :

Ví biết anh hùng duyên định mấy

Thì chi Đông Hán dám hung hăng.

bà Triệu phất cờ vàng và đánh nhau với Mã viện danh tướng nhà Đông Hán thì cuộc khởi nghĩa bà Triệu và anh là Triệu quốc Đạt không thể diễn ra ở năm 248 lúc Mã Viện đã trơ xương ngựa .
Tổng hợp tư liệu nhận ra Sử ngày nay viết Bà Triệu cùng anh là Triệu quốc Đạt nổi dậy năm Mậu thìn 248 chống quân Đông Ngô là không chính xác , Thiên Nam ngữ lục viết về Trưng vương  chỉ ra :

Bắc nam bờ cõi cứ đâu đấy làm .
Định kỳ cống thuế cứ năm .
Xưng thần triều cống , vào làm tôi NGÔ .

Đông Hán cũng đươc gọi là Ngô , Bà Triệu là bộ tướng của bà Trưng và là thủ lãnh quân Khăn vàng vùng Tây Nam Thiên hạ nổi lên năm (chưa xác định được) chống quân Ngô – Đông Hán không phải Đông Ngô của Ngô tôn Quyền hay Ngô vương Quyền .
Quân Đông Hán do Mã diện tiến đánh Cửu chân nay là Qúy châu, bà Triệu tử trận , Triệu quốc Đạt là bộ tướng của bà Triệu (không phải là anh như sử chép) dĩ nhiên cũng là bộ tướng của bà Trưng trấn giữ vùng Quảng Tây ngày nay lên thay , Đạt là từ kí âm chữ Nho của từ Đak tiếng địa phương nghĩa là ‘ nước’, Triệu quốc Đạt nghĩa là chúa quốc gia Nước , điều này khớp với tư liệu của cụ Lê Quý Đôn ; Lạc – nác cũng là nước (vật chất). sau Triệu quốc Đạt cũng bị thương và mất ở Quảng Tây để lại thương tiếc vô vàn trong lòng người Choang .
Tư liệu Trung quốc chép việc Mã Viện tiến đánh Triệu quốc Đạt là đ̣uổi theo đánh diệt quân của Đô Dương , ở dòng sử này Triệu quốc Đạt tức Đạt vương – vua quốc gia Nước đã bị kí âm sai ‘Đạt vương’ biến thành ‘Đô dương’ .

Câu đối tương truyền có ở đền thờ Đào Kỳ – Phương Dung ở làng Hội Phụ:

Giao Chỉ tượng thành công dư lục thập thành giai kiện tướng.
Đô Dương mã bất tiến hậu thiên vạn tải hữu linh thần.

Những chữ Đô Dương Mã bất tiến chỉ rõ cuộc kháng cự của Đô Dương – Đạt vương đã khiến quân Đông Hán do Mã Viện cầm đầu không thể tiến xa hơn phải dừng lại và cắm cột đồng đánh dấu ranh giới cực Nam của Hán quốc ở động Cổ Sâm – Khâm châu (theo Bách Việt trùng cửu)

Tùy thư -Liệt truyện -Lâm Ấp
Tổ tiên của Lâm Ấp, nhân có loạn người đàn bà Trưng Trắc ở Giao Chỉ cuối thời Hán, con của Công tào trong huyện là Khu Liên giết Huyện lệnh, tự hiệu làm Vương. Không có con, cháu ngoại của mình là Phạm Hùng nối tiếp lập, chết, con là Dật lập. Người Nhật Nam là Phạm Văn nhân loạn làm phó của Dật, rồi dạy xây cung điện, làm khí giới. Dật rất tín nhiệm, sai Văn cầm binh, rất được lòng dân chúng. Văn nhân đó tra hỏi con em của Dật, người thì chạy người thì trốn. Đến lúc Dật chết, nước không có người nối nghiệp, Văn tự lập làm Vương

Đọc đoạn sử trên ta không thể hiểu khác là khởi nghĩa Hai bà Trưng xảy ra vào cuối thời Đông Hán , đồng thời hay ngay trước thời điểm Khu liên giết huyện lệnh Tượng lâm và xưng vương .
Khu Liên trong sử sách là tên gọi của quốc vương đầu tiên của Lâm Ấp, ngoài ra còn có các tên gọi khác như: Khu Quỳ, Khu Đạt hay Khu Vương. Người ta cho rằng ông lập ra vương quốc Lâm Ấp (sau này là Chăm Pa) năm 192 …như thế Mã viện không thể hành quân dẹp “loạn người đàn bà Trưng Trắc ở Giao Chỉ” chiếm đất việt trong thời gian năm 39-42 như Việt sử và Hán sử đã chép .

Dựa trên nhiều tư liệu có thể dựng nên kịch bản lịch sử :

Năm 184 Bà Triệu và Triệu quốc Đạt cũng là Khu Đạt hay Khu KIên lãnh đạo dân vùng Tây Nam Thiên hạ nổi lên chống lại sự cai trị của quân xâm lược Đông Hán trong cuộc khởi nghĩa Hoàng cân do bà Trưng khởi xướng (sử Trung hoa gọi là anh em Trương Giác Trương Lương Trương Bảo).
Cuộc nổi dậy mau chóng bị dập tắt ở vùng Hoàng hà nhưng ở Tây Nam Thiên hạ bước ̣đầu khởi nghĩa thắng lợi …, sử viết bà Trưng thực ra là bà Triệu lên ngôi vua

Đô kì đóng ở Mê linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta …

Mê linh thiết Minh ghép với chữ Đô chỉ ra thủ đô nước của  Trưng vương là Minh đô.
Đất nước của bà vương Triệu thị Trinh người Việt gọi là Hùng Lạc , Tư liệu khác của Trung quốc gọi là nước Lâm Ấp hay Lâm Ích tồn tại được 3 năm .Năm 187 Quân Đông Hán do Mã Viện cầm đầu hành quân tái xâm lược , Bà Triệu tử trận , Triệu quốc Đạt – Khu Đạt – Đô dương lui về Quảng Tây tiếp tục chiến đấu , sau cũng tử trận nhưng Nghĩa quân đã buộc quân Đông Hán dừng bước và cắm mốc phân ranh ở Khâm châu gần biên giới Giao chỉ .

Năm 187 phía Đông Giao chỉ do Ngạn Uy lãnh đạo tuy đã độc lập nhưng không sưng vương nên sử gọi là Sĩ Nhiếp tức kẻ Sĩ nhiếp chính .
Phía Tây Giao chỉ Mạnh Hoạch chính xác là Mãnh Hoạch lãnh đạo vẫn tiếp tục hoạt động tấn công quân Hán (người Mường có họ Mãnh không có họ Mạnh).
Năm ….? tướng Đông Ngô là Lục Dận đánh bại Hán quân thu hồi vùng Quảng Tây , nhân lúc này Sĩ Nhiếp cũng theo về với Đông Ngô , Ngô Quyền đặt là Giao châu và Quảng châu gọi tắt là vùng Giao – Quảng .
Quãng những Năm 200 Kiểu công Lưu Biểu sử Việt gọi là Lí Thiên Bảo trước sức ép của quân Tào Tháo đã bỏ Kinh châu Hồ Nam chạy về vùng nước Dạ lang sử Việt gọi là động Dã năng ở Quý châu ngày nay .
Tại đây Lí Thiên Bảo xưng vương sử Việt chép là Đào lang vương dưới trướng có Lưu Bị sử Việt gọi là Lí Phật tử .
Năm 208 Lí Thiên Bảo qua đời , Lí Phật tử tiếp quản quyền hành đã dần mở rộng quyền cai quản về hướng Tứ Xuyên và sau nữa là Vân Nam ngày nay .
Quàng năm 205 Tể tướng Thục là Gia cát Lượng đã dùng ân uy thu phục được Mạnh Hoạch chính xác là Mãnh Hoạch thủ lãnh người Mường ở Tây Bắc Việt ngày nay như thế Lãnh thổ nước Thục lúc này đã trải dài từ Tứ Xuyên đến miền Trung Việt Nam
Năm 220 Lí Phật tử – Lưu Bị xưng đế đặt tên nước là Thục hay Tây Thục trở thành 1 trong 3 thành phần của vở kịch Tam quốc do người Tàu dàn dựng .
Năm 263 Quân Tấn chiếm được kinh đô và bắt được vua Thục
Lịch sử Trung quốc coi như nước Thục đã bị diệt , thực ra cuộc chiến vẫn còn dài .
Người Vân Nam đã nghe theo Sĩ Nhiếp về với Ngô Quyền hay Tôn Quyền .
vùng Hưng hóa Phía Tây Bắc Giao chỉ vẫn nẳm trong tay hậu duệ Khu Liên – Triệu quốc Đạt .

Năm 270, Phạm Hùng dòng giống bên ngoại của Khu Liên lên làm vua Lâm Ấp tiếp tục cuộc chiến chống Hán lúc này là nhà Tấn . Quân Lâm Ấp giao tranh với quân Tấn hàng mấy năm ròng hòng chiếm thêm đất đai. Đến năm 282, quân Lâm Ấp bị quân Tấn dưới sự chỉ huy của tướng Đào Hoàng đánh bại, Phạm Hùng chết trong chiến trận. Con Phạm Hùng là Phạm Dật lên nối ngôi. Năm 284, Phạm Dật sai sứ hòa nghị với Tấn, hai bên hòa bình được hơn nửa thế kỷ.
Theo sử thì Năm 605, nhà Tùy chinh phục Lâm Ấp. Thủ đô thất thủ, quốc gia Lâm Ấp nhập vào Thiên hạ nhà Tùy – Sủy -Sở,

Lịch sử Nước Lâm Ập của người Mường liệu có phải là được tiếp nối bởi nước Chiêm thành của người Chăm …, tới tận giờ dấu …? còn bỏ lửng …