Lịch sử An Nam – Nam chiếu – Đại Nam.


Sử thuyết Hùng Việt cho là Đường triều đổi phủ đô độ Hoan châu thành phủ đô hộ An Nam quản lí các châu KIMI tự trị trên đất châu Hoan và châu Trung thời Tùy tức đất Nghệ An – Hà Tĩnh và vùng Bình Trị Thiên ngày nay , An Nam là địa danh mới đặt cho vùng đất cũ nơi có Thướu lĩnh kinh đô đầu tiên thời đế Minh cũng là đế Hoàng khởi lập Hữu Hùng quốc tức nước của họ Hùng , đây cũng gọi là đất Đào – Hồng lĩnh thời Đào – Đường thị cộng với Bình Trị Thiên là phần đất phía Bắc nước Yên của ông Thiệu công Thích thời Trần gọi là An Chiêm (An là tên đất , Chiêm là tên tộc người ).
Vùng đất An Nam thời thuộc Đường rất quan trọng với lịch sử Việt Nam .
Tộc phả họ Phạm trích trong nghiên cứu cuả tác giả Bách Việt trùng cửa viết :
…Sau khi Triệu Đà chống lại nhà Nam Hán, lập nên nước Nam Việt (207 trc CN) sáp nhập nước Âu Lạc vào Nam Việt và thu gom cả đất Nam Hà (xứ Lâm ấp). Chỉ đến khi nhà Hán xâm chiếm lại Nam Viêt, nhà Triệu bị diệt vong (111 trc CN) thì họ Lý xưng vương xứ Lâm ấp. Mãi đến đời Lý Khu Kiên mất, họ Phạm kế vị với 19 đời vua trải qua gần 500 năm (140-605), đóng đô tại thành Châu Sa ( xã Tịnh Châu huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi ngày nay). Đến đời vua họ Phạm thứ 19 là Phạm Chí bị tướng nhà Tuỳ là Lưu Phương bất ngờ đột kích, cướp phá đô thành Châu Sa, vơ vét của cải , châu báu cùng 18 pho tượng vàng của 18 vua họ Phạm, khiến Phạm Chí và con là Phạm Trung chạy ra các vùng hải đảo quanh đảo Côn Lôn để cầu cứu, được 3, 4 vạn viện binh về cùng Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế (766)…
Vì là thông tin thu thập trong dân gian Thông tin có chút khác với chính sử . Năm 766 là năm Bố cái đại vương Phùng Hưng khởi nghĩa , Mai Hắc đế khởi nghĩa năm Nhâm Tuất (722) .
Sách Việt điện u linh chép : Giữa niên hiệu Đại lịch nhà Đường (766–779), nhân An Nam có loạn, anh em Phùng Hưng đem quân đi tuần các ấp lân cận, đánh đâu được đấy. Phùng Hưng đổi tên là Cự Lão hiệu là Đô Quân, Hải cũng đổi tên là Cự Lực, hiệu là Đô Bảo.

Khởi nghĩa Mai Hắc đế là lần đầu tiên trong lịch sử liên minh dân tộc Đông nam ́Ạ́ hợp sức kiến lập 1 quốc gia . Hắc đế trong ngôn ngữ Dịch học chính là Nam chúa viết sai thành Nam chiếu . triệu và chiếu chỉ là kí âm chữ Nho của chủ và chúa , Hắc là màu Đen tượng của phương Nam trong Ngũ sắc , về vật chất là Nước , trong Thập can là 6 nút thắt .
Đặc biệt dòng tin : Mai Thúc Loan và cha con Phùng Hưng, Phùng An , diệt được quan quân nhà Đường và lập Mai Thúc Loan làm Bố Cái Đại vương, tức Mai Hắc đế ..xác định khởi nghĩa Phùng Hưng 766 đích xác là sự phục sinh của Nam chiếu kiến lập từ thời Mai thúc Loan năm 722.
Thông tin về nước Nam chiếu trong tư liệu Trung quốc .

Năm 728 Bì La Các lên ngôi chúa Mông xá , Năm Khai Nguyên thứ 26 nhà Đường (738) Bì La Các đánh bại La Quân Chiếu Điên Chi Thác, Lãng Khung Chiếu Chí La Quân, Thi Lãng Chiếu Bàng La Điên, Việt Tích Chiếu Vu Tặng, Mông Huề Chiếu Nguyên La, sách nhập ngũ chiếu. Bì La Các lấy vùng tây Nhị Hà (tức Nhĩ Hải) làm cơ sở kiến lập nên Nam Chiếu Quốc. Năm sau, dời đô về thành Thái Hòa (tức thành cổ Đại Lý ngày nay).

Hình Trich nghiên cứu của Bách Việt trùng cửu

Sử thuyết Hùng Việt nhận ra : bì la các hay Piloco chính là Bố Cái tiếng Việt , bì la thiết ba – bố , các là biến âm của cái , hay pilo thiết bố , cô là cái tiếng Việt . đắc biệt địa điểm thành lập Nam chiếu là phía tây Nhí hà tức sông Hồng không phải là hồ Nhĩ hải ở Vân nam .
Theo nghiên cứu của giới sử học Thái lan :
Khun Borom Rachathirath là tổ tiên theo thần thoại của các sắc tộc Thái, được người Lào và các dân tộc khác coi là tổ phụ của dân tộc mình. Khun Borom được giới nghiên cứu lịch sử Thái xác định là Bì La Các người đã hợp nhất Lục Chiếu thành Nam Chiếu
Tổng hợp các nguồn tư liệu Việt Trung và Thái nhận ra : Bì la Các tức Khun Borom Rachathirath chính là Bố cái đại vương Phùng Hưng trong sử Việt , các chiếu lả các chuá đất của châu KIMI ở Tây Bắc Việt trước là nước Lâm Ấp của các vua họ Phạm sau được cai quản bởi phủ Phong châu đô hộ thời Đường .Vấn đề lớn còn lại là sự khác nhau về niên ̣đại tức năm khởi nghiệp của các nhân vật lịch sử :Bố Cái – Bì La Các và Khun Borom , việc này có thể là do sử gia dùng các loại lịch khác nahu để tính hoặc chọn thời điểm khác nhau để tính tóan cũng có thể vì là truyền thuyết dân gian nên các con số chỉ mang tính ước đoán .

Dựa theo sử Việt Phùng Hưng mất nước Nam chiếu chia đôi , phía Bắc Phùng An con Phùng Hưng tiếp quản , phía Nam do Phùng Hải em Phùng Hưng cai quản . tư liệu chép Phùng Hải chạy về động Chu Nham phải chăng là động Chăm (chu nham thiết Cham) tức Phùng Hải trở thành chúa Chiêm thành về sau ?.
Đối chiếu tư liệu thì Phùng An là Cái Lỗ Phong hay Các La Phượng , thực ra đây không là họ tên của người mà phong – phượng có thể là biến âm của Phùng ; cái Lỗ hay Cao lỗ nghĩa là chúa của nước Lỗ hay Lễ tức là chức danh chúa nước Lỗ họ Phùng ; phải chăng Cái Lỗ Phong chính là Phùng An ?.
Cái lỗ Phong Phùng An mở rộng lãnh thổ Nam chiếu về phía Bắc thu vào bản đồ vùng Vân Nam Quảng Tây và Qúy châu , chính thức xưng hiệu là nước Mông sau đổi là Lễ khi cực thịnh lãnh thổ có thời gian gồm cả Tứ xuyên Giao chỉ và đất nay là Myama .
Sử thuyết Hùng Việt cho nước Mông thực ra là Muang – Mương – Mường tiếng Việt , Lễ là Lỗ tên nước có từ thời Xuân thu Chiến quốc . Theo giới sử học Thái Khun Borom – Bì la Các có sáu người con và một trong số họ là “Chiếu Fa-Ngum” dã lập nên vương quốc Lan Xang vào thế kỷ 13 nay là nước Lào .
Ngoài ra Cả vua Mengrai của nước Chiang Mai và U-Thong của nước Ayutthaya tiền thân của Thái lan đều là con cháu trực hệ của Khum Borom – Bì La Các – Bố Cái đại vương Phùng Hưng .
Sách sử Việt Nam hiện nay dựa trên tư liệu trong Tứ khố toàn thư đã cạo sửa của Càn long nhìn nhận sai lầm về cuộc nổi dậy của Mai Hắc đế và Bố cái đại vương Phùng Hưng bỏ mất hẳn mảng quan hệ lịch sử Lâm ấp – An Nam – Nam chiếu – Đại Nam sau cùng là nước Việt Nam ngày nay . Nhãn quan lịch sử hầu hết mọi người hiện nay đều thiên lệch chỉ tính đến quãng lịch sử chung Đại Việt – Đại Hưng ở phía Đông và bỏ mắt hẳn quan hệ lịch sử Nam Chiếu – Đại Nam phía Tây và Trong tâm tư người Việt về tình cảm thường cảm nhận sự gần gụi với người Bách Việt Hoa Nam mà quên bẵng liên hệ ruột thịt với người Đông Nam Á tức Lâm Ấp xưa .

Tệ hại hơn nữa do đánh mất mảng lịch sử quan hệ với phía Tây hiện nay lịch sử đất phương Nam của Việt Nam được nhìn nhận từ 2 phía …sai cả 2;
Với cái nhìn của Sử thuyết Hùng Việt chỉ cần trưng dẫn 1 câu trong Thiên nam ngữ lục : ‘Khu linh người nước Nam’ ta là đủ chứng tỏ :
Gọi là cuộc Nam tiến của người Việt đã là sai còn nói người Việt chiếm nước Chiêm thành thì càng sai hơn . Khu Linh vương tổ của Lâm ấp – Chăm pa đã là người ‘nước Nam ta’ thì còn tiến hay chiếm cái nỗi gì ?. Mảnh đất nào trên thế gian này mà không có lúc tan lúc hợp ???.